|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày: 29-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lệ Hoa
2. Bà Nguyễn Thị Việt Tím
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2024/ HSST-QĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thế Q - sinh ngày 20/8/2002. Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công Giáo. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Con ông Phạm Thế H, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1976.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 27/02/2024, đến ngày 29/02/2024 chuyển tạm giam đến nay (bị cáo có mặt).
* Người bị hại: Đào Tiến K - sinh ngày 29/8/2007
Đại diện theo pháp luật cho bị hại Đào Tiến Khoa: Bà Đào Thị Minh P, sinh năm 1967 (em K, bà P có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Xuân T - sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
2. Nguyễn Chí T - sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 26/02/2024, Phạm Thế Q một mình đi bộ từ nhà trọ Phượng Vĩ thuộc khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang về hướng Chợ Sao Mai theo đường Bùi Thị Xuân (đường Kinh Mới), khi đi Q lấy một con dao cán màu vàng (lấy tại gian bếp của nhà trọ Phượng Vĩ bỏ vào cặp mang theo trên người), khi đi đến dốc cầu Đất Thánh thì Q thấy Đào Tiến K, sinh ngày 29/08/2007 đang chạy xe mô tô cùng chiều để đi học thêm nên Q hỏi xin đi nhờ xe và được K đồng ý. Sau khi lên xe Q hỏi mượn điện thoại để gọi về nhà nhưng K không đồng ý, sau khi bị từ chối, Q nảy sinh ý định cướp điện thoại của K, để thực hiện ý định trên, Q kêu K chở mình qua cầu sắt Chợ Sao Mai rồi rẽ vào Kinh Đông Bình thuộc khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang nhằm tìm nơi vắng người để thực hiện tội phạm. Khi vừa qua cua đường An Dương Vương thuộc khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, lợi dụng trời tối, vắng người qua lại Q lấy con dao trong cặp của mình kề vào sau vai của K và yêu cầu K đưa điện thoại, do đã yêu cầu nhiều lần nhưng K vẫn không chịu đưa điện thoại nên Q nói “Mày đưa không? Không đưa tao giết mày”. Khi nghe Q doạ giết K hoảng sợ nên lấy từ trong túi quần ra một điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh, số máy 3K584VN/A, số seri: K45K7KJ61V, số IMEI1: 357032763235324, IMEI2: 357032764403251 có gắn ốp lưng bằng nhựa trong đưa cho Q. Sau khi lấy điện thoại Q kêu K cung cấp mật khẩu của máy sau đó Q tiếp tục khống chế kêu K chở về hướng Kinh Đòn Dông, trong lúc ngồi phía sau, Q mở cặp của K để tìm tài sản nhưng không có, khi đi đến gần cầu Đòn Dông thì Q kêu K chạy qua cầu về đường An Dương Vương, qua Kinh Đầu Ngàn hướng về Kinh B, khi đến đoạn đường vắng, Q kêu K dừng xe lại, rồi mở cốp xe để tìm tài sản nhưng không có, Q tiếp tục khống chế kêu K chở Q chạy ra Quốc lộ 80, chạy về hướng Kinh D, khi vừa qua dốc cầu Kinh D, Q kêu K ghé vào tiệm điện thoại di động Alo 123, thuộc ấp P, thị trấn T, huyện V, thành phố Cần Thơ do ông Phạm Thành P làm chủ để bán chiếc điện thoại di động vừa cướp được của K. Khi Q vừa xuống xe K nhanh chóng chạy xe về Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang trình báo sự việc. Riêng Q khi vào tiệm điện thoại di động Alo 123 bán điện thoại nhưng ông P không mua, sau đó Q đón xe ôm chở đến tiệm điện thoại di động “Xuân Thanh” tại chợ Kinh 6, huyện T do anh Nguyễn Xuân T là chủ bán được với giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và mua lại một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI REDMI 12C, màu xanh của cửa hàng điện thoại với giá 2.000.000 đồng để sử dụng, số tiền còn lại 4.000.000 đồng Q tiêu xài cá nhân. Cơ quan điều tra tiến hành thu hồi một điện thoại di động Iphone 13 màu xanh, số máy 3K584VN/A, số seri: K45K7KJ61V, số IMEI1: 357032763235324, IMEI2: 357032764403251 và một ốp lưng bằng nhựa trong đã qua sử dụng do anh Nguyễn Xuân T tự nguyện giao nộp.
Tiến hành khám xét nơi ở của Phạm Thế Q, Cơ quan điều tra Công an huyện T thu giữ: Một cây dao cán nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có tổng chiều dài 10cm x 02cm, trên cán dao được khắc hình con voi có hình chữ nổi KIWI, phần lưỡi dao có chiều dài 11,5cm, điểm rộng nhất của lưỡi dao 02cm; Một điện thoại di động hiệu XIAOMI REDMI 12C, màu xanh, model 22120RN86G; Một cái túi da màu nâu có hoa văn chữ VL đóng mở bằng khóa kéo có kích thước 28cm x 19cm; Một cái nón kết màu trắng có thêu dòng chữ TRUE RELIGION màu trắng; Một cái áo thun tay ngắn màu đen có in dòng chữ ROCK RLEUIUAL màu cam; Một cái quần short Jeans màu xanh lưng thun; Một đôi dép quai kẹp, trên quai có in dòng chữ FENDI màu đen; Tiền Việt nam 1.100.000 đồng (tiền bán điện thoại cướp được còn lại).
* Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành yêu cầu định giá tài sản mà bị cáo Phạm Thế Q đã cướp.
Kết luận định giá tài sản số: 06/2024/KL-HĐĐG ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận:
Một điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh, đã qua sử dụng có giá là 14.750.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng);
Một ốp lưng bằng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng Hội đồng thống nhất không thẩm định.
Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 14.750.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
* Cáo trạng số 25/CT-VKSTH ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Phạm Thế Q về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên xử bị cáo Phạm Thế Q phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thế Q mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Những vật chứng đã tạm giữ trong vụ án được xử lý như sau:
Sau khi tạm giữ các vật chứng liên quan đến vụ án, điều tra, xác minh yêu cầu định giá, làm rõ, ngày 11/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là em Đào Tiến K: Một điện thoại di động Iphone 13 màu xanh, số máy 3K584VN/A, số seri: K45K7KJ61V, số IMEI1: 357032763235324, IMEI2: 357032764403251 và một ốp lưng bằng nhựa trong suốt đã qua sử dụng.
Cơ quan điều tra đã giao lại chiếc điện thoại hiệu di động hiệu XIAOMI REDMI 12C, màu xanh, model 22120RN86G và 1.100.000 đồng cho anh Nguyễn Xuân T nhận.
Đề nghị trả lại cho Nguyễn Chí T: Một cây dao án nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có tổng chiều dài 10cm x 02cm, trên cán dao được khắc hình con voi có hình chữ nổi KIWI, phần lưỡi dao có chiều dài 11,5cm, điểm rộng nhất của lưỡi dao 02cm;
Đề nghị trả lại cho bị cáo Phạm Thế Q: Một cái túi da màu nâu có hoa văn chữ VL đóng mở bằng khóa kéo có kích thước 28cm x 19cm; Một cái nón kết màu trắng có thêu dòng chữ TRUE RELIGION màu trắng; Một cái áo thun tay ngắn màu đen có in dòng chữ ROCK RLEUIUAL màu cam; Một cái quần short Jeans màu xanh lưng thun; Một đôi dép quai kẹp, trên quai có in dòng chữ FENDI màu đen;
* Trách nhiệm dân sự:
Bị hại Đào Tiến K đã nhận lại tài sản bị cướp; người liên quan Nguyễn Xuân T đã nhận số tiền 2.900.000 đồng từ gia đình bị cáo và cả hai đều có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai trái của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 26/02/2024 Đào Tiến K, sinh ngày 29/8/2007 cho bị cáo Phạm Thế Q đi nhờ xe, khi K chạy xe qua cua đường An Dương Vương thuộc khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang thì bị cáo Q lấy con dao cán nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có tổng chiều dài 10cm x 02cm, phần lưỡi dao có chiều dài 11,5cm là phương tiện nguy hiểm đem theo sẵn trên người, kề dao vào vai của K đe dọa, khống chế cướp một điện thoại di động Iphone 13 màu xanh, số máy 3K584VN/A và một ốp lưng bằng nhựa trong suốt đã qua sử dụng của K và buộc K phải cung cấp mật khẩu điện thoại rồi đem bán được 6.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Tài sản bị cáo Phạm Thế Q cướp có trị giá 14.750.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Phạm Thế Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được việc cướp tài sản của người khác là hành vi phạm pháp luật, mục đích sử dụng cho tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi cướp tài sản của bị hại một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và làm mất an ninh trật tự ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình, có tác dụng răn đe và đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự; trình độ học vấn thấp; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đào Tiến K đã nhận lại tài sản bị cướp; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Xuân T đồng ý nhận lại chiếc điện thoại di động mà bị cáo Q đã mua của tiệm với giá 2.000.000 đồng và 1.100.000 đồng khi Cơ quan điều tra tạm giữ là số tiền mà bị cáo Q đã bán chiếc điện thoại của bị hại, để trừ vào số tiền 6.000.000 đồng mà bị cáo đã bán chiếc điện thoại do cướp mà có cho anh T; anh T đã nhận thêm số tiền 2.900.000 đồng từ gia đình bị cáo và cả hai đều có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho anh Nguyễn Chí T một cây dao án nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có tổng chiều dài 10cm x 02cm, trên cán dao được khắc hình con voi có hình chữ nổi KIWI, phần lưỡi dao có chiều dài 11,5cm, điểm rộng nhất của lưỡi dao 02cm;
Trả lại cho bị cáo Phạm Thế Q: Một cái túi da màu nâu có hoa văn chữ VL đóng mở bằng khóa kéo có kích thước 28cm x 19cm; Một cái nón kết màu trắng có thêu dòng chữ TRUE RELIGION màu trắng; Một cái áo thun tay ngắn màu đen có in dòng chữ ROCK RLEUIUAL màu cam; Một cái quần short Jeans màu xanh lưng thun; Một đôi dép quai kẹp, trên quai có in dòng chữ FENDI màu đen;
[7] Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là em Đào Tiến K: Một điện thoại di động Iphone 13 màu xanh, số máy 3K584VN/A và một ốp lưng bằng nhựa trong suốt đã qua sử dụng.
Đối với 01 điện thoại hiệu di động hiệu XIAOMI REDMI 12C, màu xanh, model 22120RN86G và 1.100.000 đồng, Cơ quan điều tra đã giao lại cho anh Nguyễn Xuân T; là phù hợp.
[8] Đối với Nguyễn Xuân T có mua điện thoại do bị cáo Phạm Thế Q bán, do không biết chiếc điện thoại là tài sản do cướp mà có nên không có căn cứ để xử lý; là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thế Q phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thế Q 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho anh Nguyễn Chí T: Một cây dao án nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại có tổng chiều dài 10cm x 02cm, trên cán dao được khắc hình con voi có hình chữ nổi KIWI, phần lưỡi dao có chiều dài 11,5cm, điểm rộng nhất của lưỡi dao 02cm;
Trả lại cho bị cáo Phạm Thế Q: Một cái túi da màu nâu có hoa văn chữ VL đóng mở bằng khóa kéo có kích thước 28cm x 19cm; Một cái nón kết màu trắng có thêu dòng chữ TRUE RELIGION màu trắng; Một cái áo thun tay ngắn màu đen có in dòng chữ ROCK RLEUIUAL màu cam; Một cái quần short Jeans màu xanh lưng thun; Một đôi dép quai kẹp, trên quai có in dòng chữ FENDI màu đen.
Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKSTH ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Thế Q phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Đạo |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự (cướp tài sản)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Thế Q phạm tội “Cướp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thế Q 07 (bảy) năm tù
