Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VỊ THỦY

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/DS-ST

Ngày: 28 - 8 - 2023

V/v: Tranh chấp về

hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY - TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tua.
  2. Bà Trần Thị Bé Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2023/TLST-DS, ngày 14 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-DS, ngày 24 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2023/QĐST-DS, ngày 22 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần () Bưu điện L; trụ sở: Tầng A, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà T, Số B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S - Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền:

  1. Ông Trần Hữu T - Giám đốc Ngân hàng TMCP L - Chi nhánh tỉnh H;
  2. Ông Nguyễn Hùng T1 và bà Lâm Thị Diệu T2 - Chuyên viên Phòng hỗ trợ hoạt động - Chi nhánh H; địa chỉ: Số C, đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

(Theo Văn bản uỷ quyền số 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017 của Tổng Giám đốc và Văn bản uỷ quyền số 532/2022/UQ L1.HG ngày 03/10/2022 của Giám đốc Chi nhánh H (bà T2 có mặt, vắng mặt ông T1).

- Bị đơn:

  1. Ông Trần Thanh T3, sinh năm 1967 (Có mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1966 (Vắng mặt);

Cùng cư trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04/10/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần () Bưu điện L - Chi nhánh H (do bà Lâm Thị Diệu T2 đại diện) trình bày: Vào ngày 13/7/2021, giữa nguyên đơn với các bị đơn là ông Trần Thanh T3 và bà Nguyễn Thị T4 có thỏa thuận, ký kết một hợp đồng tín dụng (sau đây viết tắt là HĐTD) kiêm khế ước nhận nợ số HDTD800202101057, theo thỏa thuận Ngân hàng TMCP L (sau đây viết tắt là Ngân hàng) cho ông T3 với bà T4 vay số tiền là 50.000.000đ, mục đích vay trồng lúa và nuôi heo, lãi suất cho vay 13,85%/năm, lãi suất thay đổi định kỳ trong thời hạn cho vay, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi, kỳ hạn trả lãi 03 tháng/lần vào ngày 13/6/2022, thời hạn vay là 11 tháng, khoản vay trên đã quá hạn thanh toán. Do các bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các bị đơn trả nợ vốn lãi tạm tính đến ngày 26/9/2022 tổng cộng 50.706.094₫ (trong đó nợ gốc 46.999.979đ, lãi quá hạn 818.754₫, lãi chậm trả gốc 2.863.534đ và lãi chậm trả lãi 23.827đ), và tiếp tục tính lãi suất theo hợp đồng tín dụng cho đến khi tất toán khoản vay.

Tại văn bản ngày 30/6/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông Trần Thanh T3 (không có yêu cầu phản tố) trình bày: Ông T3 thừa nhận vào ngày 13/7/2021 có vay của Ngân hàng TMCP L - Chi nhánh H số tiền 50.000.000đ để trồng lúa và nuôi heo, ngày trả nợ cuối cùng 13/6/2022, nguyên nhân chưa trả được nợ là do người thân đau bệnh và lúa bị ngập nước; ông T3 thừa nhận hiện còn nợ Ngân hàng và đồng ý trả nợ cho Ngân hàng 02 đợt (lần 1 ngày 25/7/2023 trả 30.000.000đ; lần 2 ngày 25/10/2023 trả tất nợ);

Quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn bà Nguyễn Thị T4 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không lý do cũng không ai có ý kiến, yêu cầu gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tình tiết, sự kiện các bên đã thống nhất: Về thời gian vay, số tiền vay, mục đích sử dụng vốn vay.

Tình tiết các bên không thỏa thuận được: Phương thức và thời gian trả nợ.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, ý thức chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn bà T4 không chấp hành đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn trả nợ cho nguyên đơn gồm vốn lãi theo hợp đồng tín dụng; án phí bị đơn phải nộp theo quy định. Kiến nghị, khắc phục: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng Thương mại cổ phần L - Chi nhánh H khởi kiện các bị đơn ông Trần Thanh T3 và bà Nguyễn Thị T4 để yêu cầu thanh toán nợ vay theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ; do các bị đơn cư trú tại ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang phù hợp với địa chỉ của bị đơn ghi trong hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 16 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng, Tòa án thụ lý theo quan hệ “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

[1.2] Về xét xử vắng mặt bị đơn: Bà Nguyễn Thị T4 đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt, không lý do, cũng không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, không có người đại diện tham gia phiên toà. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

[2] Áp dụng pháp luật về nội dung: Giao dịch giữa các bên được ký kết, thực hiện vào năm 2021, nên áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn để giải quyết.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP L - Chi nhánh H (sau đây viết tắt: Ngân hàng).

[4] Theo bản phô tô sổ hộ khẩu gia đình và giấy chứng nhận kết hôn do Ngân hàng cung cấp cho thấy: Ông Trần Thanh T3 kết hôn với bà Nguyễn Thị T4 từ năm 1987.

[5] Vào ngày 13/7/2021, giữa Ngân hàng với ông Trần Thanh T3 và bà Nguyễn Thị T4 có thỏa thuận, ký kết một hợp đồng tín dụng (sau đây viết tắt là HĐTD) kiêm khế ước nhận nợ số HDTD 800202101057, theo hợp đồng Ngân hàng cho ông T3 với bà T4 vay số tiền 50.000.000đ, phương thức cho vay từng lần, mục đích vay trồng lúa và nuôi heo, thời hạn cho vay là 11 tháng (tính từ ngày 14/7/2021), lãi suất cho vay gồm: Lãi suất trong hạn 13,85% năm, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, lãi suất nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi, kỳ hạn trả lãi 03 tháng/lần (trả lãi vào ngày 13), thời hạn thanh toán cuối kỳ là ngày 13/6/2022. Để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp thì nguyên đơn cung cấp bản sao HDTD kiêm khế ước nhận nợ số HDTD 800202101057 ngày 13/7/2021, bên dưới chữ “Bên vay” có chữ ký và ghi rõ họ tên của ông Trần Thanh T3 và bà Nguyễn Thị T4; trong quá trình vay, ông T3 với bà T4 có đóng lãi và trả vốn, sau đó thì không đóng lãi, cũng không trả vốn theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, ông T3 với bà T4 là bên vi phạm hợp đồng;

[6] Quá trình giải quyết vụ án, tại văn bản ngày 30/6/2023 ông T3 thừa nhận nợ và đồng ý trả nợ; còn bà T4 mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không lý do, cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ để chấp nhận.

[7] Về lãi suất: Theo hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn, quá hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi phù hợp với quy định tại thời điểm ký kết hợp đồng. Theo bảng kê dư nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn gốc và lãi chậm trả tính đến ngày 28/8/2023 của Ngân hàng gồm: Lãi suất trong hạn tính từ ngày 13/7/2021 đến ngày 23/6/2022 thời gian là 11 tháng, chưa thanh toán số tiền là: 818.754đ; Lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (28/8/2023) là: 11.698.307₫; Lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả là: 98.923đ. Tổng cộng, vốn lãi (tính đến ngày 28/8/2023) là: 49.615.910đ. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ các bên đã thoả thuận, ký kết; do đó, yêu cầu trả vốn và lãi suất của Ngân hàng là có căn cứ.

[8] Theo HĐTD, khoản vay này ông T3 với bà T4 thực hiện trong thời kỳ hôn nhân, mục đích vay trồng lúa và nuôi heo, nên đây là nợ chung của vợ chồng. Do đó, ông T3 với bà T4 có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi tất toán khoản vay.

[9] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận, nên các bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch. Vào ngày 22/8/2023, ông Trần Thanh T3 có đơn đề nghị miễn giảm án phí, với lý do: hoàn cảnh gia đình do bà T4 thoái hoá xương chậu, ruộng bị nước ngập gia đình đang gặp khó khăn, được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 13, Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Toà án giảm cho ông T3 50% mức án phí. Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.

[10] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Điều 93, Điều 94, các khoản 1, 5, 10 Điều 95, khoản 2 Điều 97, Điều 98, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng: các Điều 117, 118, 119, 274, 280, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần L - Chi nhánh H về việc yêu cầu các bị đơn ông Trần Thanh T3 và bà Nguyễn Thị T4 trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng, kiêm khế ước nhận nợ số: HDTD 800202101057 ngày 13/7/2021.

2. Buộc ông Trần Thanh T3 và bà Nguyễn Thị T4 có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần L - Chi nhanh H số tiền vốn lãi tính đến ngày 28/8/2023 tổng cộng là: 49.615.910₫ (Bốn mươi chín triệu sáu trăm mười lăm ngàn chín trăm mười đồng; trong đó: nợ vốn 36.999.926đ, nợ lãi trong hạn 818.754đ, nợ lãi quá hạn 11.698.307đ, lãi suất chậm trả lãi 98.923₫).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (từ ngày 29/8/2023) cho đến khi thi hành án xong khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, kiêm khế ước nhận nợ số: HDTD800202101057 ngày 13/7/2021, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, kiêm khế ước nhận nợ số: HDTD800202101057 ngày 13/7/2021 các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Buộc ông Trần Thanh T3 và bà Nguyễn Thị T4 phải chịu án phí số tiền là: 1.240.397đ (Một triệu hai trăm bốn mươi ngàn ba trăm chín mươi bảy đồng).

3.2. Ngân hàng TMCP L - Chi nhánh H được nhận lại số tiền 1.175.000₫ (Một triệu một trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003219, ngày 14/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang;

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Vị Thủy;
  • - Chi cục THA DS h. Vị Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP;
  • - Cổng TTĐT (để công bố);

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2023/DS-ST ngày 28/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 34/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger