Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH HẢI

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Văn Tiên;
  2. Bà Trần Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1982. Địa chỉ: khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Bị đơn: ông Trương Thanh A, sinh năm 1979. Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày:

Bà và ông Trương Thanh A tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T vào năm 2001. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với cha mẹ ông A tại phường P, thành phố P - T. Năm 2010, vợ chồng ông mua đất và xây nhà ở riêng tại thôn Đ, xã H, huyện N. Đến năm 2022, vợ chồng bà xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vả nhau vì bất đồng quan điểm sống. Tháng 6/2022, do không thể tiếp tục sống chung nên bà đã chuyển ra ở trọ tại khu phố A, phường Đ, thành phố P - T. Từ khi bà chuyển ra ở trọ đến nay vợ chồng bà không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống, không ai đặt vấn đề hàn gắn tình cảm. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông A không còn nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông A.

Về con chung: Vợ chồng bà có 02 người con chung là cháu Trương Thanh Anh Gia B, sinh năm 2002 và cháu Trương Gia K, sinh năm 2009. Cháu B hiện nay đã trên 18 tuổi, lao động tự túc được nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu K đang sống với ông A và có nguyện vọng sống cùng ông A nên đề nghị Tòa án giao cháu K cho ông A nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trương Thanh A: Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ về thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn nhưng bị đơn không đến Tòa án để làm việc, không có văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với bị đơn ông Trương Thanh A. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bị đơn có nơi cư trú tại xã H, huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Trương Thanh A nhưng ông A vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Trương Thanh A kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 55 ngày 14/6/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, bà N trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2022 vợ chồng bà xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vả nhau vì bất đồng quan điểm sống. Tháng 6/2022, do không thể tiếp tục sống chung nữa nên bà đã chuyển ra thuê nhà trọ ở tại phường Đ, thành phố P - T. Từ khi bà chuyển ra ở riêng đến nay vợ chồng bà không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống, không ai đặt vấn đề hàn gắn tình cảm vợ chồng. Lời trình bày của bà N về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với nội dung xác nhận của chính quyền địa phương nơi vợ chồng bà N đã cư trú.

Bên cạnh đó, quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng nhưng ông A không đến Toà án để làm việc, hoà giải, không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà N, điều này chứng tỏ ông A có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Tuy nhiên, từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng bà N ông A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng bà N và ông A có 02 con chung là cháu Trương Thanh Anh Gia B, sinh năm 2002 và cháu Trương Gia K, sinh năm 2009. Cháu B đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ly hôn bà đề nghị Toà án giao cháu K cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: hiện nay bà N không có chỗ ở ổn định, đang phải đi thuê nhà ở trọ; cháu K đang sống ổn định cùng với ông A tại nhà riêng ở thôn Đ, xã H, ông A đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, cháu K đang học tập ổn định tại trường học trên địa bàn xã H và cháu K cũng có nguyện vọng được sống cùng ông A. Do đó, nhằm bảo đảm các điều kiện tốt nhất đối với con chưa thành niên, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, Hội đồng xét xử giao cháu K cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Trong quá trình tố tụng ông A vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn nên hậu quả pháp lý ông A phải chịu theo quy định của pháp luật.

[2.3] Tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn với ông Trương Thanh A.

2. Về con chung: Giao cho ông Trương Thanh A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Trương Gia K, sinh ngày 21/02/2009. Bà Nguyễn Thị Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000271 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Ninh Hải;
  • - CCTHADS huyện Ninh Hải;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - UBND P.Phủ Hà,
  • ( GCNKH số: 55, ngày 14/6/2001);
  • - Lưu hồ sơ; án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Đinh Thị Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger