trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024

V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Đức Âm

Ông Nguyễn Bá Tuyên

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/ TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXX-ST, ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2024/TB-TA, ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Tuyết N, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Khu N, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

- Bị đơn: Anh Phạm Văn M, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu N, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị Tuyết N trình bày: Chị và anh M kết hôn với nhau vào ngày 07/12/2008, có đăng ký tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng anh chị sinh sống cùng gia đình nhà anh M tại xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2021 thì sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã, anh M không quan tâm đến gia đình. Chị đã ra ngoài thuê nhà ở, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn chị đề nghị Tòa án huyện Đ giải quyết cho chị được ly hôn anh M.

- Về con chung: Chị và anh M có 02 con chung là Phạm Ánh H, sinh ngày 04/6/2009 và Phạm Anh L, sinh ngày 25/4/2021. Hiện cả 02 con đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh M cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, vay nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy báo nhiều lần cho anh M (M1 đẻ anh M nhận thay) nhưng anh M đều vắng mặt, không đến Toà án làm việc theo giấy báo, do vậy Toà án không thể tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại biên bản ghi lời khai của bà Đoàn Thị L1 (mẹ đẻ anh M), ngày 28/5/2024, bà L1 cho biết:

Anh M và chị N kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sinh sống cùng gia đình bà tại khu N, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Qúa trình chung sống khoảng năm 2021 anh chị có sảy ra mâu thuẫn, cãi vã nên chị N đã ra ngoài thuê nhà ở, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm nhau. Anh M đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về nhà. Các giấy báo và văn bản tố tụng của Toà gửi cho anh M, bà nhận thay thì đều đã đưa lại cho anh M. Anh M nói lại với bà là bận đi làm nên không đến Toà án làm việc được. Nay chị N làm đơn xin ly hôn anh, quan điểm của anh đồng ý ly hôn vì vợ chồng đã ly thân từ lâu, không còn tình cảm. Do bận đi làm nên anh đề nghị Toà án giải quyết và xét xử vắng mặt.

Về con chung: Anh M và chị N có 02 con chung là Phạm Ánh H, sinh ngày 04/6/2009 và Phạm Ánh L, sinh ngày 25/4/2021. Hiện nay, các cháu đang ở cùng chị N. Quan điểm anh M trao đổi lại với bà là đồng ý để chị N tiếp tục nuôi dưỡng các con chung vì các cháu đang ở ổn định với chị N.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh M và chị N không có tài sản chung, nợ chung.

3. Ý kiến của con chung: Cháu Phạm Ánh H, sinh ngày 04/6/2009 có nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị N sau khi bố mẹ ly hôn vì cháu đang ở ổn định cùng mẹ và mẹ chăm sóc tốt cho cháu.

4. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án:

+ Xử cho chị Bùi Thị Tuyết N được ly hôn anh Phạm Văn M.

+ Về con chung: Giao 02 con chung là Phạm Ánh H, sinh ngày 04/6/2009 và Phạm Ánh L, sinh ngày 25/4/2021 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị N tự nguyện không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

+ Về án phí: Chị N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Bùi Thị Tuyết N và bị đơn anh Phạm Văn M đều có nơi cư trú tại xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn chị N đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt chị N. Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo mở lại phiên tòa hợp lệ cho anh M nhưng anh M không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh M.

[2]. Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị N và anh M là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/12/2008 tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống cùng gia đình anh M tại xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Lời trình bày của các đương sự và chứng cứ thu thập, xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương xác định: Trong cuộc sống hôn nhân của anh chị có sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Năm 2021, mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị N và anh M là mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ lâu do vậy, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị N được ly hôn anh M là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị N và anh M có 02 con chung là Phạm Ánh H, sinh ngày 04/6/2009 và Phạm Ánh L, sinh ngày 25/4/2021. Hiện cả 02 con đang ở cùng chị N. Khi ly hôn Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng. Anh M cũng đồng ý để chị N nuôi cả 02 con. Qua thu thập chứng cứ thể hiện: Con chung là cháu Phạm Ánh H đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng được sống cùng mẹ là chị N, con chung là cháu Phạm Ánh L, sinh năm 2021 còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, chị N đã trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và bảo đảm cho các con chung có cuộc sống sinh hoạt, học tập ổn định. Chị N hiện là giáo viên có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định. Anh M thường vắng mặt tại địa phương, thiếu sự quan tâm chăm sóc đối với con chung. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung, cần giao các con chung là Phạm Ánh H, sinh ngày 04/6/2009 và Phạm Ánh L, sinh ngày 25/4/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.

1. Xử: cho chị Bùi Thị Tuyết N được ly hôn anh Phạm Văn M.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Phạm Ánh H, sinh ngày 04/6/2009 và Phạm Ánh L, sinh ngày 25/4/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị N tự nguyện không yêu cầu. Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/2023, số 0002212, ngày 21/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - UBND xã Chí Đám;
  • - Lưu HS + VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Khanh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Bùi Thị Tuyết N ly hôn anh Phạm Văn M.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger