TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/KDTM-ST
Ngày: 26-7-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Ông Nguyễn Hữu Đệ
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 03/2024/TLST-KDTM ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-KDTM ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng T4 (O);
Trụ sở chính: 199 N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Anh T - Chủ tịch Hội đồng thành viên; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trung D - Tổng giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Duy H - Chức danh: Giám đốc phụ trách Phòng G và ông Bùi Duy T1 - Giám đốc KHBL-PGD Đông Anh theo Văn bản ủy quyền số 4110/2023/UQ-OCEANBANK.11.01 ngày 21/8/2023.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thái H1, sinh năm1974 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1979; Cùng thường trú tại: Thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1953
- Ông Nguyễn Thái H2, sinh năm 1981
- Ông Nguyễn Thái H3, sinh năm 1977
- Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1999
- Anh Nguyễn Thái Hoàng D1, sinh năm 2001
Nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Hà Nội. - Chị Tòng Thị N, sinh năm 2002;
- Cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 2021 (Con anh D1, chị N)
Cùng thường trú tại: Thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội;
Cùng thường trú tại: Thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Á là chị N, anh Dương
Tại phiên toà có mặt: ông T1, ông H1; vắng mặt: bà L và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, những lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 15/3/2019, Ngân hàng T4 (gọi tắt là Ngân hàng O) và vợ chồng ông Nguyễn Thái H1, bà Hoàng Thị L có ký Hợp đồng hạn mức tín dụng số 018/2019-HĐCV/OCEANBANK.DONGANH và Giấy nhận nợ số 018.02/2019-HĐCV/OCEANBANK.DONGANH ngày 27/9/2019 với nội dung: Số tiền vay: 400.000.000 đồng; Mục đích sử dụng tiền vay: Kinh doanh sản xuất đồ gỗ; Phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất trong hạn: 10,5%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150%/năm so với lãi suất trong hạn; Lãi suất chậm trả: 10%/ tính trên số lại trậm trả; Thời hạn vay: Từ ngày 27/9/2019 đến ngày 27/3/2020; Thời hạn trả lãi: 01 tháng/lần, trả vào ngày 15 hàng tháng.
Thực hiện thoả thuận của Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ trên Ngân hàng O đã thực hiện giải ngân cho bên thụ hưởng theo yêu cầu của ông H1, bà L 01 lần số tiền 400.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 27/9/2019.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Nguyễn Thái H1, bà Hoàng Thị L và gia đình đã thế chấp tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 101, tờ bản đồ số 02, địa chỉ tại thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R024085, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 1847QSDĐ/LH do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16/9/2004 cho Hộ gia đình bà Đỗ Thị T2, HK số: 327518. Theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0074/2017/HĐTC/OCEANBANK.DONGANH đã được công chứng số 3062/2017/HĐTC, quyển số 31 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/11/2017 tại Văn phòng C. Ngày 03/11/2017, Văn phòng Đ - Chi nhánh huyện Đ chứng nhận việc đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật.
Mặc dù đã quá hạn trả nợ nhưng ông H1, bà L chưa thanh toán được đầy đủ tiền gốc, tiền lãi cho Ngân hàng O. Ngân hàng O đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cũng như cử đại diện làm việc với ông H1, bà L để tìm phương hướng giải quyết nhưng ông H1, bà L vẫn không trả đầy đủ số tiền nợ. Do đó, ông H1, bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng O.
Nay, Ngân hàng O khởi kiện ông H1, bà L đến Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông H1, bà L phải trả cho Ngân hàng O tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 26/7/2024 là 665.465.735 đồng (sáu trăm sáu mươi lăm triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, bảy trăm ba mươi lăm đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 391.600.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 4.432.690 đồng; tiền nợ lãi quá hạn là 267.511.808 đồng; tiền lãi phạt chậm trả: 1.921.237 đồng. Và buộc ông H1, bà L phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng và Giấy nhân nợ trên từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trong trường hợp ông H1, bà L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng O có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 101, tờ bản đồ số 02, địa chỉ tại thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R024085, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 1847QSDĐ/LH do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16/9/2004 cho Hộ gia đình bà Đỗ Thị T2, HK số: 327518. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ và lãi phát sinh thì ông H1, bà L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng O. Về án phí: Ông H1, bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là ông Nguyễn Thái H1 trình bày: Năm 2019, do cần vốn đầu tư làm ăn nên ngày 15/3/2019, vợ chồng ông và Ngân hàng O có ký Hợp đồng hạn mức tín dụng và Giấy nhận nợ số ngày 27/9/2019 như Ngân hàng O trình bày. Vợ chồng ông đã nhận số tiền vay 400.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay trên, gia đình ông đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 101, tờ bản đồ số 02, địa chỉ tại thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số bìa R024085 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16/9/2004 cho Hộ gia đình bà Đỗ Thị T2 là mẹ đẻ ông.
Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ, Hợp đồng thế chấp liên quan đến khoản vay và số tiền nợ gốc, nợ lãi còn lại do Ngân hàng nộp tại Toà án đúng là do ông ký và ông không có ý kiến gì. Do dịch bệnh và điều kiện làm ăn khó khăn nên ông chưa trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng, dẫn đến việc Ngân hàng khởi kiện vợ chồng ông đến Toà án nhân dân huyện Đông Anh. Do kinh tế khó khăn nên ông phải vào tỉnh Đồng Tháp để làm ăn, thỉnh thoảng mới về nhà. Quá trình giải quyết vụ án, ông có biết việc Toà án gửi các văn bản tố tụng cho ông và gia đình nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông không về được. Đến phiên toà hôm nay ông mới thu xếp được để đến Toà án, ông mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện cho ông về thời gian trả nợ, miễn giảm lãi và cho ông tự xử lý tài sản để trả nợ Ngân hàng O.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị L vợ ông H1 trình bày: Bà xác nhận là bà và ông H1 có ký Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ, Hợp đồng thế chấp để vay tiền của Ngân hàng O năm 2019 như Ngân hàng trình bày, bà không có ý kiến gì. Toàn bộ tiền vay ông H1 sử dụng để trả nợ tiền xây nhà và để làm ăn. Năm 2023, bà và ông H1 đã ly hôn và bà chuyển về ở thôn G, xã L. Khi ly hôn, bà và ông H1 không giải quyết về tài sản chung và nợ chung nhưng có thoả thuận miệng với nhau là ông H1 sử dụng nhà đất trên và có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng. Đến nay, bà xác định bà không có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng, bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật và bà xin vắng mặt tại Toà án trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thái Hoàng D1 con ông H1 trình bày: Anh là con trai ông H1, bà L, hiện nay anh đang bị truy tố, xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Anh đã được Toà án cung cấp nội dung Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ, Hợp đồng thế chấp để vay tiền của Ngân hàng O năm 2019, anh không có ý kiến gì. Bố mẹ anh là người ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nên bố mẹ anh có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng. Anh đề nghị Ngân hàng miễn giảm tiền lãi và tạo điều kiện về thời gian để bố mẹ anh thu xếp trả nợ và anh xin vắng mặt tại Toà án trong quá trình giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án gửi Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện, các tài liệu giấy tờ kèm theo và các văn bản tố tụng khác cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là mẹ và các con ông H1. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến Toà án làm việc, không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tòa án đã nhiều lần triệu tập những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến Tòa án làm việc nhưng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án làm việc, do đó, Tòa án không tiến hành lấy lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cũng như tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự trong vụ án được.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trên, bị đơn là ông H1 xác nhận việc vay nợ, số tiền vay, tiền lãi. Ông H1 trình bày Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp liên quan đến khoản vay do Ngân hàng nộp tại Toà án đúng là do ông ký và ông không có ý kiến gì. Do điều kiện làm ăn khó khăn nên ông chưa trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng, dẫn đến việc Ngân hàng khởi kiện ông đến Toà án nhân dân huyện Đông Anh. Nay, ông mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện về thời gian, miễn giảm lãi và cho ông tự xử lý tài sản để trả nợ Ngân hàng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp luật của những người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặt tại phiên tòa, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông H1, bà L thanh toán trả cho Ngân hàng O: số tiền nợ gốc là 391.600.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 4.432.690 đồng; nợ lãi quá hạn là 267.511.808 đồng, tổng cộng là 663.544.498 đồng; không chấp nhận yêu cầu trả lãi phạt chậm trả là 1.921.237 đồng. Và buộc ông H1, bà L phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ trên; Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp ông H1, bà L không trả nợ; Và quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ; căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa; căn cứ việc hỏi tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Ngân hàng O khởi kiện yêu cầu ông H1, bà L thanh toán tiền nợ và xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản nên được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có địa chỉ, nơi cư trú và tài sản thế chấp là bất động sản tại huyện Đ, thành phố Hà Nội, do vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã tiến hành gửi hợp lệ các văn bản tố tụng đến những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là mẹ và các con ông H1 nhưng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án làm việc và không gửi ý kiến bằng văn bản đến Tòa án nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án làm việc đồng nghĩa với việc đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về pháp luật áp dụng giải quyết trong vụ án: Quan hệ vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nội dung hình thức của giao dịch dân sự trên phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Bộ luật dân sự năm 2015. Do bị đơn vị phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện đến Tòa án. Vì vậy, pháp luật được áp dụng giải quyết trong vụ án là Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[4] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn phải trả nguyên đơn tổng số tiền nợ tạm tính đến hết 26/7/2024 là 665.465.735 đồng (sáu trăm sáu mươi lăm triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, bảy trăm ba mươi lăm đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 391.600.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 4.432.690 đồng; tiền nợ lãi quá hạn là 267.511.808 đồng; tiền lãi phạt chậm trả: 1.921.237 đồng và các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ trên từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, xét thấy: nội dung Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ trên có nội dung phù hợp các Điều từ 463 đến 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, đã thực hiện việc giải ngân theo cam kết cho bị đơn. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng như trên là phù hợp với các Điều từ 463 đến 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp bị đơn không trả nợ đúng hạn, xét thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0074/2017/HĐTC/OCEANBANK.DONGANH đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 101, tờ bản đồ số 02, địa chỉ tại thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số bìa R024085 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16/9/2004 cho hộ gia đình bà Đỗ Thị T2 đã được công chứng số 3062/2017/HĐTC, quyển số 31 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/11/2017 tại Văn phòng C và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện Đ phù hợp với các quy định của pháp luật về thế chấp tài sản và đăng ký giao dịch bảo đảm. Ông H1, bà L và gia đình tự nguyện đem tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thế chấp cho Ngân hàng O để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho các khoản nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn các khoản phí và chi phí khác phát sinh nếu có. Do đó, nếu ông H1 bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ pháp luật và được chấp nhận.
Trong trường hợp số tiền phát mại/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng O thì ông H1, bà L còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết các khoản nợ.
[5] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 3 Điều 159; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 474, 476 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 466, 468, 317, 318, 319 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T4 (O) đối với ông Nguyễn Thái H1 và bà Hoàng Thị L.
- Buộc ông Nguyễn Thái H1 và bà Hoàng Thị L phải trả cho Ngân hàng O tổng số tiền nợ tạm tính đến hết 26/7/2024 là 665.465.735 đồng (sáu trăm sáu mươi lăm triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, bảy trăm ba mươi lăm đồng); trong đó: Tiền nợ gốc là 391.600.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 4.432.690 đồng; tiền nợ lãi quá hạn là 267.511.808 đồng; tiền lãi phạt chậm trả: 1.921.237 đồng và các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng hạn mức tín dụng số 018/2019-HĐCV/OCEANBANK.DONGANH và Giấy nhận nợ số 018.02/2019-HĐCV/OCEANBANK.DONGANH ngày 27/9/2019.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông H1, bà L không trả đủ các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng O có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số số 101, tờ bản đồ số 02, địa chỉ tại thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số bìa R024085, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 1847QSDĐ/LH do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 16/9/2004 cho hộ gia đình bà Đỗ Thị T2 để thu hồi nợ.
Trong trường hợp số tiền phát mại/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng O thì ông H1, bà L còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng O đến khi trả hết các khoản nợ
- Về án phí: Ông Nguyễn Thái H1 và bà Hoàng Thị L phải chịu 30.619.000 đồng (ba mươi triệu, sáu trăm mười chính nghìn đồng). Trả lại Ngân hàng O số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.237.000 đồng theo Biên lai Số 0016978 ngày 05/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Anh Tuấn (Đã ký) |
Bản án số 34/2024/KDTM-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 34/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng T4 - Ông Nguyễn Thái H
