Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt.

Bà Trần Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đức, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

CÀ MẠNH DƯƠNG, sinh năm 1998; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Bản H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Cà Văn D, sinh năm 1975; Con bà: Quàng Thị S, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023, hiện đang tạm giam tại trại giam S1 Công an T3. (Có mặt).

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; (Vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện P, TP . Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cà Mạnh D1 là người nghiện ma túy và bỏ nhà đi sống lang thang. Thông qua mạng xã hội, D1 quen một người phụ nữ tên là L có tài khoản Zalo là “T”; biết D1 đang tìm việc làm nên L bảo D1 đến thị xã S để L xin việc làm cho, D1 đồng ý. Sáng ngày 26/12/2023, D1 đi xe khách từ Điện Biên đến thị xã S rồi báo cho L biết thì L bảo D1 chờ người ra đón. Sau đó có một người đàn ông tên là N đi xe máy đến đón và chở D1 đến trước cửa nhà nghỉ H thuộc khu nhà ở P, phường P, thị xã S, thành phố Hà Nội rồi bảo D1 vào thuê phòng nghỉ. D1 vào gặp anh Dương Ngọc M (sinh năm: 1986) là chủ nhà nghỉ H hỏi thuê phòng để ở một mình; Anh D1 đồng ý và xếp cho D1 thuê phòng 201 của nhà nghỉ. Tối ngày 26/12/2023, N gọi D1 đi đến quán nước ở vỉa hè tại khu vực ngã tư P (thuộc phường P, thị xã S, thành phố Hà Nội) uống nước. Tại đây, N và D1 đã thống nhất với nhau mua ma túy về để bán kiếm lời, tiền lời sẽ chia nhau; Sau khi thống nhất thì N đưa cho D1 500.000 đồng để ăn uống và mua ma túy về bán. N cũng cho D1 số điện thoại 0357.331.xxx của người bán ma túy để D1 hỏi mua ma túy rồi cả hai đi về.

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 26/12/2024, Nguyễn Văn T đi đến khu vực vườn hoa bến xe S thuộc M, phường Q, thị xã S tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, T được một người đàn ông không quen biết cho số điện thoại 0339.383.xxx nên T gọi điện thoại cho D1 để hỏi mua ma túy, thì D1 hẹn sáng hôm sau sẽ bán ma túy cho T. T đồng ý.

Khoảng 06 giờ 00 ngày 27/12/2023, D1 gọi điện thoại vào số máy 0357.331.xxx thì có một người đàn ông nghe máy nên D1 hỏi mua 400.000 đồng tiền ma túy. Người đàn ông đồng ý và bảo D1 đi đến đầu đường vào nhà nghỉ H để mua bán ma túy. D1 đi đến chỗ hẹn gặp và đưa cho người đàn ông bán ma túy 400.000 đồng; người này cầm tiền rồi đưa cho D1 04 gói ma túy xong bỏ đi. D1 cất 04 gói ma túy vào túi áo khoác rồi đi về đến gần nhà nghỉ thì T gọi điện thoại di động đến hỏi mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. D1 đồng ý và bảo T đi đến đầu đường vào nhà nghỉ H để giao dịch mua bán ma túy. T đồng ý. Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 27/12/2024, T đi đến điểm hẹn gặp D1 thì D1 đưa cho T 01 gói ma túy; T đưa cho D1 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng rồi cất gói ma túy vào túi áo khoác bên trái: Vì D1 không có tiền trả lại nên T bảo D1 cầm cả 500.000 đồng đến tối Tân sẽ mua nốt ma túy. D1 đồng ý và cất tiền vào túi quần bên trái. Cùng lúc này tổ công tác của Công an phường T phối hợp với Công an phường P và Đội cảnh sát điều tra về tội phạm về ma túy, Công an thị xã S đang làm nhiệm vụ thấy D1 và T có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính thì phát hiện cả hai đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong người nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Thu giữ vật chứng gồm:

- T1 tại túi áo khoác bên trái của Nguyễn Văn T 01 (một) gói nilông màu trắng (KT 1,5x1cm) bên trong chứa 01 gói giấy bạc màu vàng đựng chất bột màu trắng. (T khai đây là ma túy vừa mua của D1 với giá 300.000 đồng).

- T1 tại túi áo khoác bên phải của Cà Mạnh D1 03 (ba) gói nilông màu trắng (đều có KT 1,5x1cm) bên trong đều chứa 01 gói giấy bạc màu vàng đụng chất bột màu trắng. (D1 khai đây là ma túy của D1 mua về để bán lại cho người khác kiếm lời).

- T1 tại túi quần phía trước bên trái của D1 01 (một) tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng. (D1 khai đây là tiền T trả khi mua ma túy nhưng D1 không có tiền trả lại cho T 200.000 đồng nên T bảo D1 cầm cả 500.000 đồng đến tối Tân sẽ mua tiếp ma túy).

- Thu của D1 01(một) điện thoại di động Iphone 6s, màu hồng, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bị nứt màn hình.

T1 của T 01 (một) điện thoại di động Vivo màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bị nứt màn hình.

- 01 thẻ căn cước công dân mang tên Cà Mạnh D1.

Qua xét nghiệm xác định D1 dương tính với ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D1 là phòng 201 của nhà nghỉ H nhưng không thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số: 76/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố T3 kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy bạc màu vàng (bên ngoài đều được bọc nilông màu trắng, thu của Cà Mạnh D1) là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,314 gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng (bên ngoài được bọc nilông màu trắng, thu của Nguyễn Văn T) là ma tùy loại Herom, khối lượng: 0,021 gam.

Về nguồn gốc ma túy: D1 mua của một người đàn ông sử dụng số điện thoại di động 0357.331.xxx là số điện thoại mà N cho, D1 lưu tên là "Ax". Tuy nhiên, D1 không biết rõ đặc điểm nhận dạng cũng như tên và địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý được.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn T là người mua ma túy của D1 để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, T không có tiền án chưa được xóa án tích và không có tiền sự còn thời hiệu gì liên quan đến ma túy; khối lượng ma túy T tàng trữ là 0,021 gam nên không cấu thành tội phạm. Do vậy, Công an thị xã S đã ra Quyết định xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với T. T cũng không biết

rõ đặc điểm nhận dạng cũng như tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đã cho T số điện thoại của D1 nên không có cơ sở xác mình làm rõ để xử lý được.

Quá trình điều tra, xác minh đã làm rõ: Số điện thoại 0357.331.xxx chủ thuê bao đăng ký là Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1957, ở thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Số điện thoại di động 0355.923.xxx, chủ thuê bao đăng ký là Đoàn Thị L1, sinh năm: 1979, ở Thôn F, xã T, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, ông T2 không đăng ký sử dụng số điện thoại 0357.331.xxx và bà L1 cũng không đăng ký sử dụng số điện thoại 0355.923.xxx; Ông T2 và bà L1 không quen biết với D1 cũng như người tên là “N” sử dụng số điện thoại 0355.923.xxx, cả hai cũng chưa bao giờ đến thị xã S nên không có căn cứ xử lý ông T2, bà L1.

Do D1 không biết rõ đặc điểm nhận dạng cũng như tên và địa chỉ cụ thể của người tên “Nam” nên không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý được. Đối với người phụ nữ tên là “Lan” mà Dương quen trên mạng xã hội có tài khoản Zalo là “T". Qua kiểm tra điện thoại của D1 không phát hiện tài khoản zalo nào tên “Thùy L2". D1 chưa trực tiếp gặp L1 và không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cùng đặc điểm nhận dạng cụ thể của L1 nên không có sở xác minh làm rõ để xử lý được.

Ngoài ra, Cà Mạnh D1 còn khai nhận: Vào tối ngày 26/12/2024, D1 còn bán 02 gói ma túy Heroin cho một người đàn ông không quen biết với giá 600.000 đồng. Tuy nhiên do D1 không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này và ngoài lời khai của D1 thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện việc D1 bán ma túy vào tối ngày 26/12/2024. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để kết luận D1 đã có hành vi bán ma túy nhiều lần và bán ma túy đổi với 02 người trở lên.

Vật chứng chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để xử lý theo quy định của pháp luật gồm:

  • - 01 phong bì của phòng PC09- C1 được niêm phong dán kin bên ngoài có chữ ký của đối tượng Cà Mạnh D1, cán bộ Công an phường T Nguyễn Hoàng N1, giám định viên Trần Ngọc C.
  • - 01 phong bì của phòng PC09- C1 được niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn T, cán bộ Công an phường T Nguyễn Hoàng N1, giảm định viên Trần Ngọc C.
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 6s, màu hồng, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị nứt màn hình thu của D1.
  • - 01 (một) điện thoại di động Vivo màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng. bị nứt vỡ màn hình thu của T.
  • - 01 thẻ căn cước công dân mang tên Cà Mạnh D1.
  • - Số tiền 500.000 nghìn đồng thu của Cà Mạnh D1.

Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKS ngày 03/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây đã truy tố bị cáo Cà Mạnh D1 ra trước Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Cà Mạnh D1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Cà Mạnh D1 ăn năn về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về lao động hòa nhập xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Cà Mạnh D1 đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, khoản s khoản 1, khoản 2 Điều 51, xử phạt Cà Mạnh D1 từ đến tháng tù;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì của phòng PC09- C1 được niêm phong dán kin bên ngoài có chữ ký của đối tượng Cà Mạnh D1, cán bộ Công an phường T Nguyễn Hoàng N1, giám định viên Trần Ngọc C; 01 phong bì của phòng PC09- C1 được niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn T, cán bộ Công an phường T Nguyễn Hoàng N1, giảm định viên Trần Ngọc C.

Tịch thu sung quỹ nhà nước : 01 (một) điện thoại di động Iphone 6s, màu hồng, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị nứt màn hình thu của D1; 01 (một) điện thoại di động Vivo màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng. bị nứt vỡ màn hình thu của T; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Cà Mạnh D1; Số tiền 500.000 nghìn đồng thu của Cà Mạnh D1.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Cà Mạnh D1 nhận thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 7 giờ 40 phút ngày 27/12/2024, tổ công tác của Công an phường T phối hợp với Công an phường P và Đội cảnh sát điều tra về tội phạm về ma túy, Công an thị xã S đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực đầu đường vào nhà nghỉ H thuộc khu nhà ở P, phường P, thị xã S, thành phố Hà Nội thì phát hiện Cà Mạnh D1 đang bán trái phép 0,021 gam ma túy loại Heroine cho Nguyễn Văn T với giá 300.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ 0,314 gam ma túy loại Heroine của D1 đang cất dấu trong người để bán cho người khác nên tổ công tác đã bắt giữ D1 cùng tang vật.

Khoảng 07 giờ 40 phút sáng ngày 27/12/2024, tại khu vực đầu đường vào nhà nghỉ H thuộc khu nhà ở P, phường P, thị xã S, thành phố Hà Nội, Cà Mạnh D1 đã có hành vi bán trái phép 0,021 gam ma túy loại Heroine cho Nguyễn Văn T với giá 300.000 đồng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ 0,314 gam ma túy loại Heroine của D1 đang cất dấu trong người để bán cho người khác.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Cà Mạnh Dương p vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố bị cáo Cà Mạnh D1 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với người đàn ông tên N1 sử dụng số điện thoại di động 0357.331.xxx đã bán ma túy cho D1: D1 mua của một người đàn ông sử dụng số điện thoại di động 0357.331.xxx là số điện thoại mà N1 cho, D1 lưu tên là "Ax". Tuy nhiên, D1 không biết rõ đặc điểm nhận dạng cũng như tên và địa chỉ cụ thể của người đàn ông này, Cơ quan Công an không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý được nên HĐXX không xem xét.

Đối với Nguyễn Văn T là người mua ma túy của D1 để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, T không có tiền án chưa được xóa án tích và không có tiền sự còn thời hiệu gì liên quan đến ma túy; khối lượng ma túy T tàng trữ là 0,021 gam nên không cấu thành tội phạm. Do vậy, Công an thị xã S đã ra Quyết định xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với T. T cũng không biết rõ đặc điểm nhận dạng cũng như tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đã cho T số điện thoại của D1 nên không có cơ sở xác mình làm rõ để xử lý được, vì vậy HĐXX không xem xét.

Đối với chủ sử dụng các số điện thoại 0357.331.xxx chủ thuê bao đăng ký là Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1957, ở thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Số điện thoại di động 0355.923.xxx, chủ thuê bao đăng ký là Đoàn Thị L1, sinh năm: 1979,

ở Thôn F, xã T, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, ông T2 không đăng ký sử dụng số điện thoại 0357.331.xxx và bà L1 cũng không đăng ký sử dụng số điện thoại 0355.923.xxx; Ông T2 và bà L1 không quen biết với D1 cũng như người tên là “N1” sử dụng số điện thoại 0355.923.xxx, cả hai cũng chưa bao giờ đến thị xã S nên không có căn cứ xử lý ông T2, bà L1 vì vậy HĐXX không xem xét.

Đối với người phụ nữ tên là “Lan” mà Dương quen trên mạng xã hội có tài khoản Zalo là “T". Qua kiểm tra điện thoại của D1 không phát hiện tài khoản zalo nào tên “Thùy L2”. D1 chưa trực tiếp gặp L1 và không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cùng đặc điểm nhận dạng cụ thể của L1 nên không có sở xác minh làm rõ để xử lý được, do đó HĐXX không xem xét.

Ngoài ra, Cà Mạnh D1 còn khai nhận: Vào tối ngày 26/12/2024, D1 còn bán 02 gói ma túy Heroin cho một người đàn ông không quen biết với giá 600.000 đồng. Tuy nhiên do D1 không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này và ngoài lời khai của D1 thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện việc D1 bán ma túy vào tối ngày 26/12/2024. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để kết luận D1 đã có hành vi bán ma túy nhiều lần và bán ma túy đổi với 02 người trở lên nên HĐXX không xem xét.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy, có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng, cải tạo bị cáo có ý thức chấp hành tốt pháp luật và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, là người dân tộc thiểu số nên HĐXX áp dụng quy định khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Cà Mạnh D1 không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với ma túy bên trong 01 phong bì của phòng PC09- C1 được niêm phong dán kin bên ngoài có chữ ký của đối tượng Cà Mạnh D1, cán bộ Công an phường T Nguyễn Hoàng N1, giám định viên Trần Ngọc C; 01 phong bì của phòng PC09- C1 được niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn T, cán

bộ Công an phường T Nguyễn Hoàng N1, giảm định viên Trần Ngọc C là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 6s, màu hồng, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị nứt màn hình thu của D1; 01 (một) điện thoại di động Vivo màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng. bị nứt vỡ màn hình thu của T; Số tiền 500.000 đồng thu của Cà Mạnh D1 là công cụ, phương tiện bị cáo và đối tượng sử dụng để liên lạc, mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Cà Mạnh D1 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Cà Mạnh D1 phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Cà Mạnh D1: 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 27/12/2023.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 thẻ căn cước công dân mang tên Cà Mạnh D1;

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì của phòng PC09- C1 được niêm phong dán kin bên ngoài có chữ ký của đối tượng Cà Mạnh D1, cán bộ Công an phường T Nguyễn Hoàng N1, giám định viên Trần Ngọc C; 01 phong bì của phòng PC09- C1 được niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn T, cán bộ Công an phường T Nguyễn Hoàng N1, giảm định viên Trần Ngọc C.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 6s, màu hồng, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị nứt màn hình thu của D1; 01 (một) điện thoại di động Vivo màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng. bị nứt vỡ màn hình thu của T; Số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng.

(Theo Ủy nhiệm chi số 28 ngày 05/4/2024 của Công an thị xã S nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP . tại Kho bạc Nhà nước thị xã S; Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 04 tháng 4 năm 2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án hình sự Công an thị xã S)

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH16 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Cà Mạnh D1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện KSND TX Sơn Tây;
  • - Công an TX Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hoàng Đức Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BC D mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger