Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 25 - 7 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly

hôn giữa anh Dương và chị Thuỳ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tiến Dũng

Ông Bùi Văn Biền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thu Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2024/TLPT- HNGĐ ngày 22/5/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” do bản án sơ thẩm số: 42/2024/HNGĐ-ST ngày 08/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 14/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Vũ Trường D, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm A, xã X huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

- Bị đơn: chị Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

Người kháng cáo: Chị Phạm Thị Thanh T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Trường D và chị Phạm Thị Thanh T kết hôn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã X ngày 12/12/2016. Vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ không ai quan tâm đến ai đã một năm nay. Anh xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên đề nghị được ly hôn chị T.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Vũ Hồng M sinh ngày 24/11/2017 hiện đang ở với chị T. Khi ly hôn anh nhường cho chị nuôi con, anh cấp dưỡng nuôi con cho chị mỗi tháng 1.000.000 đ cho đến khi con đủ 18 tuổi. Nếu chị T không đồng ý thì anh nhận nuôi con và không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con cho anh.

Về tài sản, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng: Anh không yêu cầu giải quyết

Chị Phạm Thị Thanh T trình bày: Chị và anh D kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã X ngày 12/12/2016. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân không ai quan tâm đến ai khoảng 01 năm nay. Tại buổi công khai tài liệu chứng cứ chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, anh xin ly hôn chị chỉ đồng ý khi anh để chị nuôi con và cấp dưỡng nuôi con cho chị mỗi tháng 4.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi vì cháu bị viêm da cơ địa từ khi 03 tháng tuổi, tiền ăn, tiền học, tiền chữa bệnh đã 8.000.000 đồng mỗi tháng. Tại phiên tòa chị xác định tình cảm vợ chồng có thể hàn gắn nếu anh D vì con về chung sống với chị nuôi con hoặc chị vào với anh. Về con chung anh chị có 01 con chung là cháu Vũ Hồng M sinh ngày 24/11/2017 hiện đang ở với chị. Khi ly hôn chị xin nuôi con và yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con cho chị như đã nêu trên. Chị muốn nhận tiền cấp dưỡng nuôi con theo năm. Chị yêu cầu anh D phải truy trả lại tiền nuôi con cho chị trong thời gian trước đây vì anh chưa cấp dưỡng nuôi con. Khi anh thăm con phải báo trước 03 ngày, không được ép buộc con đi đâu khi con không muốn. Về tài sản, công nợ chung của vợ chồng không có chị không đề nghị giải quyết.

Từ nội dung vụ án như trên, bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST ngày 08/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo:

  1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Vũ Trường D và chị Phạm Thị Thanh T.
  2. Về nuôi con chung: Giao chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung Vũ Hồng M sinh ngày 24/11/2017. Buộc anh Vũ Trường D cấp dưỡng nuôi con cho chị mỗi tháng là 1.800.000 đồng kể từ tháng 4/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh D có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Anh D phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự

Ngày 08/4/2024 chị T kháng cáo với nội dung: Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm về phần cấp dưỡng nuôi con với mức 1.800.000 đồng/ tháng. Chị đề nghị anh D phải cấp dưỡng nuôi con theo năm.

Tại phiên toà phúc thẩm: Anh D, chị T đều đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, quyền lợi của đương sự được bảo đảm.

Về nội dung giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát có quan điểm như sau: Sửa bản án sơ thẩm. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị T. Buộc anh Vũ Trường D cấp dưỡng nuôi con cho chị T mỗi tháng là 2.000.000 đồng kể từ tháng 4/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Phạm Thị Thanh T được làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự tố tụng phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm, chị T1, anh D đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử phúc thẩm vắng mặt anh D, chị T.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

[3] Về thủ tục tố tụng, quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bảo đảm được quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự.

[4] Về nội dung: anh Vũ Trường D và chị Phạm Thị Thanh T kết hôn tự nguyện và đăng ký tại UBND xã X nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống và sống ly thân đã hơn 01 năm nay. Anh xin ly hôn, chị cũng xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nhưng chị chỉ đồng ý ly hôn khi anh để chị nuôi con và cấp dưỡng nuôi con cho chị mỗi tháng 4 triệu đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Toà án cấp sơ thẩm xét thấy anh chị đã xác định không thể hàn gắn tình cảm được cũng nên đã xử cho ly hôn giữa anh D và chị T là có căn cứ.

[5] Vợ chồng anh Vũ Trường D và chị Phạm Thị Thanh T có 01 con chung là cháu Vũ Hồng M sinh ngày 24/11/2017 hiện đang ở với chị T. Chị T yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 04 triệu đồng và cấp dưỡng theo năm nhưng anh chỉ đồng ý cấp dưỡng hàng tháng, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Xét thấy anh tự nguyện nhường cho chị nuôi con, chị cũng có nguyện vọng được

nuôi nên tiếp tục giao con cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng. Về phương thức cấp dưỡng, anh D không đồng ý cấp dưỡng theo năm như yêu cầu của chị T. Thực tế anh D đi làm và tiền lương được trả hàng tháng, do đó bản án sơ thẩm buộc anh D cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là phù hợp. Về mức cấp dưỡng nuôi con, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ theo mặt bằng chung mức lương tối thiểu tại thời điểm xét xử sơ thẩm, buộc anh D cấp dưỡng nuôi con cho chị mỗi tháng là 1.800.000 đồng kể từ tháng 04/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp. Tuy nhiên tại thời điểm xét xử phúc thẩm, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP có hiệu lực ngày 01/7/2024 đã hướng dẫn về mức cấp dưỡng nuôi con không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Theo Nghị định số:74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu vùng kể từ ngày 01/7/2024, tại nơi cư trú của anh D là huyện X, tỉnh Nam Định được xác định là vùng III mức lương tối thiểu vùng là 3.860.000 đồng/tháng. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của chị T về tăng mức cấp dưỡng nuôi con.

[6] Việc chị đưa ra các dự liệu như con ốm đau, mức lương tăng theo quy định của Nhà nước thì buộc anh D phải có trách nhiệm. Các yêu cầu của chị T không có cơ sở thực tế để xem xét, nếu các sự kiện xảy ra thì anh chị có thể trao đổi thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án xem xét buộc anh D trợ cấp đột xuất hoặc thay đổi mức trợ cấp nuôi con sau bằng vụ kiện khác. Về việc thăm nom con của anh D, hai bên có thể tự nguyện thoả thuận, nếu không được thì thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

[7] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên chị T không phải nộp án phí phúc thẩm. Trả lại cho chị T số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; Điều 148; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Toà án;

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Phạm Thị Thanh T. Sửa bản án sơ thẩm số: 42/2024/HNGĐ-ST ngày 08/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định về mức cấp dưỡng nuôi con chung.
  2. Về nuôi con chung: Giao chị Phạm Thị Thanh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung Vũ Hồng M sinh ngày 24/11/2017. Buộc anh Vũ Trường D cấp dưỡng nuôi con cho chị mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) kể từ tháng 4/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình mà không ai có quyền cản trở.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại cho chị Phạm Thị Thanh T 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000127 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Tiến Dũng Bùi Văn Biền Nguyễn Thành Công
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-PT ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn giữa anh Dương và chị Thuỳ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger