|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/DS-ST Ngày: 25/6/2024 (V/v: Tranh chấp nợ hụi) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Văn An
Các hội thẩm nhân dân:
- 1/. Ông Mai Quốc Bảo
- 2/. Bà Dương Thị Tú Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2024/TLST- DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2024/QÐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh ngày 01/01/1962.
- Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1976.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1/. Ông Lê Văn K, sinh ngày 01/01//1964.
- 3.2/. Chị Lê Thị K1.
Địa chỉ: Ấp I, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: Ấp I, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Cùng địa chỉ: Ấp I, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Bà P có mặt; Anh T, chị K1 và ông K vắng mặt lần hai không có lý do)
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/02/2024, bản tự khai và các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày: Trước đây bà có làm chủ hụi, nên trong cùng ngày 10/4/2020 (al), bà có kêu 02 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, hụi này một tháng khui một lần. Cả 02 dây hụi này đều có 37 chưng, anh T tham gia chơi một dây một chưng của cả 02 dây hụi này của bà nên vào ngày 10/8/2020, anh T bỏ hụi hốt ở kỳ hụi thứ 5 của cả 02 dây hụi. Dây thứ nhất anh hốt được số tiền là 22.600.000 đồng và dây hụi thứ hai được số tiền là 22.280.000 đồng.
Từ khi hốt cả 02 chưng hụi của cả 02 dây hụi trên của bà cho đến nay thì anh T không có đóng lại cho bà lần hụi chết nào cả nên bà phải bỏ tiền ra đóng thay cho anh T với số tiền hụi chết là 31 kỳ x 1.000.000 đồng (2 chưng) = 62.000.000 đồng.
Ngoài ra, trước đây sau khi hai bên trừ cấn qua lại tiền hụi với nhau thì anh T còn thiếu bà số tiền 23.000.000 đồng nên nay bà yêu cầu Tòa án buộc anh T trả cho bà tổng số tiền hụi anh T còn nợ bà với số tiền là 85.000.000 đồng.
Căn cứ để bà khởi kiện anh T trả cho bà số tiền hụi trên là sau khi hốt hụi của bà thì anh T bỏ địa phương đi làm ăn một thời gian nhưng sau này anh T có về chốt nợ hụi lại với bà và thừa nhận còn thiếu bà số tiền hụi trước sau với tất cả là 88.000.000 đồng và hai bên thống nhất viết giấy chốt nợ hụi lại với nhau, giấy chốt nợ hụi này do bà P viết và anh T có ký tên vào biên nhận chốt nợ hụi này. Đến ngày 21/02/2022 anh T có trả cho bà được số tiền là 3.000.0000 đồng nên nay bà yêu cầu trả cho bà số tiền còn lại là 85.000.000 đồng.
Đối với bị đơn anh Võ Văn T cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị K1: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh T và chị K1 nhưng anh T và chị K1 không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến trình bày của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của bà P đối với anh chị.
Theo bà P xác định: Từ khi tham gia chơi hụi của bà thì vợ anh T là chị K1 có biết việc anh T chơi hụi của bà và chính chị K1 cũng có tham gia chơi hụi của bà của những dây hụi khác nên bà yêu cầu vợ chồng anh T và chị K1 cùng có nghĩa vụ trả số tiền hụi trên cho bà.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn K trình bày: Ông thống nhất với ý kiến trình bày của vợ ông là bà Nguyễn Thị P nên ông không có ý kiến gì để bổ sung.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:
2
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Võ Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị K1 chưa chấp hành đúng quy định tại các khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P. Buộc anh Võ Văn T và chị Lê Thị K1 cùng có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn K tổng số tiền hụi còn thiếu là 85.000.000 đồng (T1 mươi lăm triệu đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh Võ Văn T và chị Lê Thị K1 phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:
[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị P có đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp nợ hụi đối với anh Võ Văn T. Anh Võ Văn T có địa chỉ cư trú tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đối với sự vắng mặt của anh Võ Văn T, chị Lê Thị K1 và ông Lê Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh T, chị K1 và ông K vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Võ Văn T, chị Lê Thị K1 và ông Lê Văn K.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P đối với anh Võ Văn T có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi còn thiếu là 85.000.000 đồng thì Hội đồng xét xử nhận thấy: Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, bà P cung cấp cho Tòa án giấy nợ hụi của anh T đối với bà P cụ thể: Vào tháng 4/2021, anh T thiếu tiền hụi tổng cộng 3 dây hụi 05 chưng với số tiền là 88.000.000 đồng. Đến ngày 21/02/2022, anh T có gởi trả cho bà P được số tiền là 3.000.000 đồng nên anh T còn thiếu bà P số tiền là 85.000.000 đồng. Tại giấy nợ hụi thể hiện người thiếu tiền hụi đồng ý ký tên T. Xét thấy lời trình bày này của bà P là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do bà P cung cấp.
3
[3] Mặt khác, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Võ Văn T và chị Lê Thị K1. Nhưng anh Võ Văn T và chị Lê Thị K1 không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P. Từ đó, cho thấy anh Võ Văn T và chị Lê Thị K1 đã thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với bà P nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử công nhận đây là sự thật. Do đó, bà P yêu cầu anh Võ Văn T và chị Lê Thị K1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông số tiền 85.000.000 đồng (Tám mươi lăm triệu đồng) là hoàn toàn có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét nghĩa vụ trả nợ: Hội đồng xét xử thấy rằng, theo bà P trình bày việc anh T và chị K1 tham gia chơi hụi của bà thì chị K1 là vợ của anh T biết việc giao dịch chơi hụi này giữa bà với anh T. Đồng thời, chị K1 cũng có tham gia chơi hụi của bà cùng với anh T nên bà xác định chị K1 có biết việc anh T tham gia chơi hụi của bà. Từ đó, có cơ sở để xác định đây là nợ chung của anh T và chị K1 nên việc bà P yêu cầu anh T và chị K1 cùng có nghĩa vụ trả số tiền trên cho bà P là có căn cứ để chấp nhận.
[5] Từ những nhận định nêu trên, có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P đối với anh Võ Văn T. Buộc anh T và chị K1 cùng có nghĩa vụ trả cho bà P và ông K tổng số tiền hụi còn thiếu là 85.000.000 đồng (T1 mươi lăm triệu đồng).
[6] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị P được chấp nhận nên bà P không phải chịu án phí. Buộc anh Võ Văn T và chị Lê Thị K1 phải có nghĩa vụ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 4.250.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
[7] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu về nội dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ nêu trên;HJohH
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 143, 147 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 357, 468 và 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P đối với anh Võ Văn T về việc tranh chấp nợ hụi.
- Buộc anh Võ Văn T và chị Lê Thị K1 cùng có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn K số tiền hụi là 85.000.000 đồng (T1 mươi lăm triệu đồng).
4
Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất phát sinh tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị P không phải chịu. Buộc anh Võ Văn T và chị Lê Thị K1 có nghĩa vụ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 4.250.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6; quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Văn An |
5
Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp nợ hụi
- Số bản án: 34/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nợ hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn
