Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/4/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Long và ông Nguyễn Hải Quân.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hải Y - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 133/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 10/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1963; nơi cư trú: tổ F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;

- Bị đơn: Bà Thạch Thị Thúy V, sinh năm 1963; nơi cư trú: Tòa nhà B, Khu đô thị M, phường C, quận N, thành phố Hà Nội.

(ông H, bà V đều đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nguyên đơn trình bày:

Tôi có chung sống với bà Thạch Thị Thúy V từ năm 1988, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và về ở chung tại địa chỉ thường trú: số nhà A (tổ A) nay là tổ F, phường Q, thành phố T là nhà của bố mẹ đẻ của tôi, chúng tôi không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống đã kéo dài nhiều năm không thể dung hòa được, cho dù cả hai bên đã cố gắng để cùng nuôi dậy con cái đến trưởng thành; nhưng mục đích hôn nhân không đạt được, chúng tôi đã tự nguyện thỏa thuận tách ra sống ly thân mỗi người ở một nơi không ai còn liên quan gì đến nhau khoảng 10 năm nay. Đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng giữa tôi và bà Thạch Thị Thúy V.

Về con chung: chúng tôi có hai con chung là Hoàng Thị Phương T, sinh ngày 03/11/1989 và Hoàng Đức A, sinh ngày 30/12/1995, hiện hai con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: chúng tôi không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bị đơn trình bày:

Tôi và ông Hoàng Văn H chung sống với nhau từ năm 1988, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và về ở chung tại địa chỉ thường trú (tổ A) nay là tổ F, phường Q, thành phố T là nhà của bố mẹ chồng tôi, chúng tôi không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống đã kéo dài nhiều năm không thể dung hòa được, cho dù cả hai bên đã cố gắng để cùng nuôi dậy con cái đến trưởng thành; nhưng mục đích hôn nhân không đạt được, chúng tôi đã tự nguyện thỏa thuận tách ra sống ly thân mỗi người ở một nơi không ai còn liên quan gì đến nhau khoảng 10 năm nay. Đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng giữa tôi và ông Hoàng Văn H.

Về con chung: chúng tôi có hai con chung là Hoàng Thị Phương T sinh ngày 03/11/1989 và Hoàng Đức A sinh ngày 30/12/1995, hiện hai con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: chúng tôi không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp hành đúng thời hạn chuẩn bị xét xử, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét theo giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố không công nhận ông Hoàng Văn H và bà Thạch Thị Thúy V là vợ chồng; về con chung: đã trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, công nợ chung không giải quyết do không yêu cầu. Về án phí: miễn án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Các đương sự tranh chấp với nhau về việc yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng do không có đăng ký kết hôn. Đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 11 và Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Nguyên đơn có nơi cư trú tại phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nguyên đơn và bị đơn thống nhất thỏa thuận lựa chọn Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên làm nơi giải quyết tranh chấp, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Sau khi thụ lý vụ án nguyên đơn và bị đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại tất cả các phiên làm việc, phiên tòa, vụ án không hòa giải được, căn cứ vào khoản 3 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng, căn cứ vào lời khai của các đương sự, các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử thấy:

Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1988, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống nhưng không đăng ký kết hôn.

Nguyên đơn và bị đơn cùng xác định quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống đã kéo dài nhiều năm không thể dung hòa được, cho dù cả hai bên đã cố gắng để cùng nuôi dậy con cái đến trưởng thành, nhưng mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên đã tự tách ra sống ly thân mỗi người ở một nơi không ai còn liên quan gì đến nhau khoảng 10 năm nay. Do đó Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau, việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên.

Mặc dù việc chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, nhưng cho đến nay hai bên vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “ Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo Luật này, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Do

vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân không hợp pháp nên không được pháp luật công nhận, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận là vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[3]. Về con chung: nguyên đơn và bị đơn xác định các con đã trên 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, công nợ chung: nguyên đơn và bị đơn cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn là người cao tuổi nên miễn án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hoàng Văn H và bà Thạch Thị Thúy V.
  2. Về con chung: đã trên 18 tuổi, không xem xét giải quyết
  3. Về tài sản chung và công nợ chung: không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Miễn án phí cho ông Hoàng Văn H.
  5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không công nhận là vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger