Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 25-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Lê Thị Đông, Nguyên giáo viên Trường THCS Nhựt Tảo – thành phố Tân An, tỉnh Long An.
    • Bà Nguyễn Thị Tĩnh, Nguyên Phó Trưởng Phòng Giáo dục - Đào tạo thành phố Tân An, tỉnh Long An
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Trọn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Minh V, sinh ngày: 21/6/2006 tại Long An. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không xác định) và bà Lê Thị Mỹ P; Bị cáo là con một trong gia đình; Chưa có vợ; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 03/7/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 22/2023/HS-ST ngày 03/7/2023; Ngày 13/11/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm 03 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 61/2023/HS-ST ngày 13/11/2023. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam L. Có mặt

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Trần Thị Á, sinh năm: 1955 (bà ngoại của bị cáo); Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Mai T, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. (có mặt)

- Bị hại: Anh Lê Trọng P1, sinh ngày 26/02/2006

Địa chỉ thường trú: Ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp

Nơi ở hiện tại: Phòng số 11 nhà trọ 203/6/25 Quốc lộ F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đỗ Hoàng N

Địa chỉ: Số B Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Lê Thị Tuyết . (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 40 phút ngày 25/10/2023, bị cáo Lê Minh V điều khiển xe mô tô SYM màu đỏ, biển số 71B3-655.19 của anh Lê Trọng P1 đến phòng trọ số 11, nhà trọ địa chỉ số B Quốc lộ F, Phường F, thành phố T, Long An của P1 thuê ở để trả xe do ngày 24/10/2023 P1 cho bị cáo V mượn xe để đi lại. Khi đến phòng trọ thì P1 đang nằm ngủ nên bị cáo V nói với P1 là trả xe mô tô, Phúc thức dậy nghe thấy V nói trả xe và tiếp tục nằm ngủ, lúc này có bà Lê Thị T1 là cô ruột của P1 đang ở chung phòng trọ với P1 nghe thấy và biết sự việc bị cáo V đến trả xe. Sau đó, bị cáo V nhìn thấy trong phòng trọ có 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y12S màu xanh của P1 và bị cáo V đã tự ý lấy điện thoại để xem. Khoảng 15 phút sau thì bị cáo V mang điện thoại của P1 ra ngồi ngoài ghế đá trước cửa phòng trọ. Bị cáo V nhìn xung quanh không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm xe và điện thoại của P1. Lúc này, bị cáo V quan sát xung quanh dãy nhà trọ không có ai nên bỏ điện thoại vào túi quần, ngồi lên xe mô tô biển số 71B3-655.19 bỏ chạy về hướng thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Chiều cùng ngày, bị cáo V bán điện thoại cho một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tại một quán cà phê không rõ địa chỉ ở thành phố M, tỉnh Tiền Giang, còn xe mô tô bị cáo V đã làm mất biển số và dùng sơn màu đen thay đổi màu của xe mô tô, sử dụng để đi lại đến ngày 08/11/2023 bị bắt theo Quyết định truy nã của Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 169/KL-HĐĐG ngày 03 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An, kết luận: Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM màu đỏ, số khung: RLGSA10BH7H019300, số máy: VMSA2BH019300 là 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) và 01 ĐTDĐ hiệu VIVO Y12S là 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), tổng giá trị tài sản là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng)

Vật chứng và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả cho bị hại Lê Trọng P1 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu đỏ, không biển số, số khung: RLGSA10BH7H019300, số máy: VMSA2BH019300.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được xe mô tô và yêu cầu bị cáo V bồi thường giá trị điện thoại di động hiệu VIVO Y12S, màu xanh theo kết luận định giá là 800.000 đồng.

Tại cáo trạng số 09/CT-VKSTPTA-HS ngày 02/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Lê Minh V về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và xác định hành vi của bị cáo Lê Minh V đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh V từ 06 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại giá trị điện thoại di động hiệu VIVO Y12S, màu xanh theo kết luận định giá là 800.000 đồng.

Bị cáo Lê Minh V phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ý kiến của người bào chữa của bị cáo cho rằng: bị cáo có hành vi phạm tội đã rõ, thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lê Minh V như sau: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn và khi phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử. Đồng thười, người đại diện hợp pháp của bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 292, Điều 423 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Lời khai của bị cáo Lê Minh V tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 07 giờ 40 phút ngày 25/10/2023, tại phòng trọ số 1 của nhà trọ có địa chỉ tại số B Quốc lộ F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo Lê Minh V đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt của anh Lê Trọng P1 một xe mô tô nhãn hiệu SYM màu đỏ, biển số 71B3-655.19 có giá trị là 1.800.000 đồng và một điện thoại di động hiệu VIVO Y12S, màu xanh có giá trị là 800.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 2.600.000 đồng.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm………”

Bị cáo V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có tổng giá trị là 2.600.000 đồng với lỗi cố ý trực tiếp nên bị cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Lê Minh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

[3.1] Hành vi phạm tội do bị cáo V thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động, thích hưởng thụ nên lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ mà bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

[4] Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Trọng P1 yêu cầu bị cáo V bồi thường giá trị điện thoại di động hiệu VIVO Y12S, màu xanh theo kết luận định giá là 800.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo V đồng ý bồi thường cho anh Lê Trọng P1. Vì vậy, ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của bị cáo V và anh P1, bị cáo V có nghĩa vụ bồi thường cho anh Lê Trọng P1 giá trị điện thoại di động hiệu VIVO Y12S, màu xanh là 800.000 đồng.

[6] Về vật chứng: Đã xử lý xong nên không đề cập

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh V 06 (Sáu) tháng tù. Căn cứ vào Điều 104; Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 13/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Buộc bị cáo Lê Minh V chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/11/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của bị cáo Lê Minh V và anh Lê Trọng P1: bị cáo Lê Minh V có nghĩa vụ bồi thường cho anh Lê Trọng P1 giá trị một điện thoại di động hiệu VIVO Y12S, màu xanh là 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Lê Minh V phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP Tân An;
  • - Công an TP Tân An;
  • - Chi cục THADS TP Tân An;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Bộ phận THA hình sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Cẩm Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh V "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger