Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI,

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 25 - 4 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hòa
Ông Hoàng Văn Ngân

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 với bị cáo:

PHAN THÁI L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08/4/1974, tại huyện V, tỉnh Yên Bái; Nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Đình T (đã chết) và bà Phạm Thị S. Bị cáo có vợ Hoàng Thị C và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không

Về nhân thân: Năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 30/11/2021

Bị cáo bị bắt bị bắt tạm giữ từ ngày 12/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 12/01/2024, Phan Thái L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 24P2-5888 đi từ khu vực phường L đến khu vực cổng chào xã C thuộc thôn L, xã C, thành phố L để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân, tại đây Phan Thái L gặp một người nam giới tên S1 và hỏi mua 03 gói ma túy Heroine với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Phan Thái L cất ma túy vào túi áo khoác đang mặc và điều khiển xe về thành phố L, khi đi đến đường H, phường L thấy không có người nên Phan Thái L dừng xe ở ven đường chia 03 gói ma túy vừa mua thành 05 gói nhỏ để sử dụng dần. Sau khi chia xong ma túy, Phan Thái L cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi tiếp tục đi xe về hướng xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đến khu vực km 197+600, đường Q, tổ B, phường L, thành phố L thì bị tổ công tác Công an phường L, thành phố L phát hiện bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, thu giữ trong túi áo khoác bên phải đang mặc của Phan Thái L 05 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục, Phan Thái L khai nhận là ma túy Heroine tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn tạm giữ của Phan Thái L 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus và 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM màu đen, biển kiểm soát 24P2-5888 (Xe đã qua sử dụng).

Tại bản kết luận giám định về ma túy số 55/GĐMT ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 0,297 gam chất bột khô, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.

Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Phan Thái L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thái L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thái L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng vụ án. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 12/01/2024, bị cáo Phan Thái L đã có hành vi tàng trữ 0,297 gam H để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi tàng trữ 0,297 gam Heroine của bị cáo Phan Thái L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
  3. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc tàng trữ, sử dụng trái pháp chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành, đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

    Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.

    Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tại quyết định số 19/QĐ-TA ngày 12/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 30/11/2021. Tuy nhiên, bị cáo không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng.

    Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

  5. Về hình phạt bổ sung: Không
  6. Về vật chứng vụ án: Đối với 0,220 gam Heroin còn lại sau giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus, số imei: 355736074773185, đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền phạt và tiền án phí. Vì vậy, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
  7. Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới tên S1 mà bị cáo đã mua ma tuý ngày 12/01/2024. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu nào khác để chứng minh về nhân thân của người này. Vì vậy, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

    Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 24P2-5888, số khung: RLGKA12ED7D006425, số máy: VMVT5AD006425 (Xe đã qua sử dụng), cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được chủ sở hữu chiếc xe trên nên khi nào điều tra, làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

  8. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phan Thái L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Phan Thái L 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 12/01/2024.
  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,220 (Không phẩy hai trăm hai mươi) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 05 (Năm) mảnh giấy và bì niêm phong ban đầu được tái niêm phong đúng quy định của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì niêm phong ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phan Thái L ngày 12/01/2024 tại tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai”. Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus, số imei: 355736074773185, đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.

    (Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2024)

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai (1);
  • - TAND tỉnh Lào Cai (1);
  • - VKSND TP. Lào Cai (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - CQCSĐT CATP (1);
  • - Trại TG CA tỉnh Lào Cai;
  • - Bị cáo (1);
  • - THA DS TP. Lào Cai (1);
  • - HS THA HS (1);
  • - Lưu văn phòng (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nga

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PHAN THÁI L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger