Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 25-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Yến

Ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận HảiKiÕn An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024; thông báo thay đổi lịch xét xử số 01/TB-TA ngày 30 tháng 01 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/HSST-QĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Tạ Hữu V, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1965 tại Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: Tổ A (nay tổ I) đường L, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Ngõ B Thảm L, tổ C, đường Cát Bi, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Hữu T và bà Hoàng Thị B (đều đã chết); bị cáo có vợ là Phạm Thị Hồng L và có 02 con riêng; chưa có con chung; tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 77/1988/HSST ngày 30/12/1988 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo 18 tháng thử thách về tội “Cố ý gây thương tích” (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 15/8/2023 đến ngày 23/8/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Phạm Thị Hồng L, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: Tổ A (nay là tổ I) đường L, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Ngõ B Thảm L, tổ C, đường Cát Bi, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; bị cáo có chồng là Tạ Hữu V và có 01 con riêng; tiền án; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/8/2023 đến ngày 23/8/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Trần Thị N, sinh năm 1982; nơi cư trú: Lô A Khu A, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  2. Chị Lê Thị H, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  3. Chị Bùi Thị N1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  4. Chị Lê Thị Bích D, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ngõ B T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  5. Anh Đặng Duy K, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số E, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L là vợ chồng cùng chung sống tại địa chỉ: Ngõ B Thảm L, tổ C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng. Từ khoảng tháng 4/2023 đến tháng 8/2023, Tạ Hữu V đã bỏ ra số tiền 164.600.000 đồng để kinh doanh cho vay lấy lãi dưới hình thức vay họ góp (trả lãi, gốc theo ngày) và cho vay lãi nằm (trả lãi theo ngày hoặc nhiều ngày một lần, gốc trả khi không vay nữa), lãi suất từ 168,5%/năm đến 730%/năm để kiếm lời. Vị đưa tiền cho L để L đi tìm, làm thủ tục và thu tiền của khách vay mang về đưa cho V. Mỗi tháng Vị đưa cho L 4.000.000 đồng từ số tiền lãi thu được để chi tiêu. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ được Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L đã cho 05 người trên địa bàn quận H, thành phố Hải Phòng vay tiền, thu lợi bất chính là: 38.791.889 đồng, cụ thể như sau:

1. Chị Trần Thị N; sinh năm 1982; nơi cư trú: Lô A Khu A, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng:

Khoảng tháng 4/2023, chị N vay bát họ góp 30.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 1.000.000 đồng, thời hạn trong 36 ngày, tương đương lãi suất 202,7%/năm.

Chị N đã thanh toán xong tiền gốc và trả tiền lãi là: 6.000.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 5.408.219 đồng.

2. Chị Lê Thị H; sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng:

Ngày 29/5/2023, chị Lê Thị H vay bát họ góp 10.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 300.000 đồng, thời hạn trong 40 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Chị H đã thanh toán xong tiền gốc và trả tiền lãi là: 2.000.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 1.780.822 đồng.

Ngày 26/6/2023, chị Lê Thị H vay bát họ góp 20.000.000 đồng (nguồn gốc số tiền V, L sử dụng để cho vay là tiền gốc đã thu của lần vay ngày 29/5/2023 và thêm 10.000.000 đồng), trả gốc và lãi ngày là 600.000 đồng, thời hạn trong 40 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Chị H đã thanh toán xong tiền gốc và trả tiền lãi là: 4.000.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 3.561.644 đồng.

3. Chị Bùi Thị N1; sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng:

Ngày 25/5/2023, chị Bùi Thị N1 vay bát họ góp 15.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 300.000 đồng, thời hạn trong 65 ngày, tương đương lãi suất 168,5%/năm. Ngày 11/7/2023, do không có tiền để trả nên chị N1 đã đến gặp VL để kết thúc bát họ vay ngày 25/5/2023 và đổi sang bát họ mới nên bát họ ngày 25/5/2023 chị N1 đã thanh toán xong tiền gốc và trả tiền lãi là: 4.500.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 3.965.754 đồng.

Ngày 11/7/2023, chị Bùi Thị N1 vay bát họ góp 15.000.000 đồng (nguồn gốc số tiền V, L sử dụng để cho vay là tiền gốc đã thu của lần vay ngày 25/5/2023), trả gốc và lãi ngày là 300.000 đồng, thời hạn trong 65 ngày, tương đương lãi suất 168,5%/năm. Do bát họ vay ngày 25/5/2023, chị N1 mới đóng được 13.500.000 đồng và còn nợ 6.000.000 đồng, nên VL chỉ đưa cho chị N1 thêm 9.000.000 đồng. Ngày 14/8/2023, do không có tiền để trả nên chị N1 đã đến gặp VL để kết thúc bát họ vay ngày 11/7/2023 và đổi sang bát họ mới nên bát họ ngày 11/7/2023 chị N1 đã thanh toán xong tiền gốc và trả tiền lãi là: 4.500.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 3.965.754 đồng.

Ngày 23/6/2023, chị Bùi Thị N1 vay bát họ góp 10.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 300.000 đồng, thời hạn trong 40 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Chị N1 đã thanh toán xong tiền gốc và trả tiền lãi là: 2.000.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 1.780.822 đồng.

Ngày 01/8/2023, chị Bùi Thị N1 vay bát họ góp 10.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 300.000 đồng, thời hạn trong 40 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Chị N1 đã trả tiền gốc là: 3.250.000 đồng và trả tiền lãi 13 ngày là: 650.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 578.767 đồng. Chị N1 còn nợ tiền gốc là: 6.750.000 đồng.

Ngày 27/7/2023, chị Bùi Thị N1 vay lãi nằm 5.000.000 đồng với lãi suất 20.000 đồng/1.000.000 đồng tiền vay/01 ngày, tương đương lãi suất 730%/năm. Chị N1 đã trả tiền lãi 12 ngày là: 1.200.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 1.167.124 đồng. Chị N1 còn nợ tiền gốc là: 5.000.000 đồng.

4. Chị Lê Thị Bích D; sinh năm 1982; nơi cư trú: Ngõ B đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng:

Ngày 26/5/2023, chị Lê Thị Bích D vay bát họ góp 15.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 300.000 đồng, thời hạn trong 65 ngày, tương đương lãi suất 168,5%/năm. Chị D đã trả tiền lãi 39 ngày là: 2.699.970 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 2.379.422 đồng.

Ngày 01/6/2023, chị Lê Thị Bích D vay lãi nằm 3.000.000 đồng với lãi suất 20.000 đồng/1.000.000 đồng tiền vay/01 ngày, tương đương lãi suất 730%/năm. Chị D đã trả tiền lãi 31 ngày là: 1.860.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 1.809.041 đồng.

Ngày 08/6/2023, chị Lê Thị Bích D vay bát họ góp 5.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 150.000 đồng, thời hạn trong 40 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Chị D đã trả tiền lãi 25 ngày là: 625.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 556.507 đồng.

Ngày 22/6/2023, chị Lê Thị Bích D vay bát họ góp 5.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 150.000 đồng, thời hạn trong 40 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Chị D đã trả tiền lãi 11 ngày là: 275.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 244.863 đồng.

Ngày 02/7/2023, do chị D không còn khả năng trả lãi nên đã gộp tất cả các khoản vay của các ngày 26/5/2023, ngày 01/6/2023, ngày 08/6/2023, ngày 22/6/2023 thành một khoản vay chung và tổng số tiền mà chị D còn nợ là: 17.400.000 đồng. Chị D vay lãi nằm 19.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng tiền vay/01 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Do chị D còn nợ 17.400.000 đồng nên VL chỉ đưa cho chị D thêm 1.600.000 đồng. Chị D đã trả tiền lãi 34 ngày là: 3.230.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 2.876.027 đồng. Chị D còn nợ tiền gốc là: 19.000.000 đồng.

Ngày 05/8/2023, chị Lê Thị Bích D vay thêm 15.000.000 đồng nên đã gộp số tiền nợ cũ là 19.000.000 đồng và số tiền nợ mới thành 34.000.000 đồng. Chị D vay lãi nằm 34.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng tiền vay/01 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Chị D đã trả lãi 04 ngày là: 680.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 605.480 đồng. Chị D còn nợ tiền gốc là: 34.000.000 đồng.

Ngày 09/8/2023, chị Lê Thị Bích D đã trả được tiền nợ gốc là 7.000.000 đồng nên còn nợ VL 27.000.000 đồng. Chị D vay lãi nằm 27.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng tiền vay/01 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Chị D đã trả lãi 06 ngày là: 810.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 721.233 đồng. Chị D còn nợ tiền gốc là: 27.000.000 đồng.

5. Anh Đặng Duy K; sinh năm 1976; nơi cư trú: Số E, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng:

Ngày 03/6/2023, anh Đặng Duy K vay bát họ góp 10.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 250.000 đồng, thời hạn trong 50 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Anh K đã thanh toán xong tiền gốc và trả tiền lãi là: 2.500.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 2.226.027 đồng.

Ngày 26/6/2023, anh Đặng Duy K vay bát họ góp 10.000.000 đồng, trả gốc và lãi ngày là 250.000 đồng, thời hạn trong 50 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Do bát họ vay ngày 03/6/2023, anh K còn nợ 6.750.000 đồng, nên VL chỉ đưa cho anh K thêm 3.000.000 đồng (đã trừ đi tiền cả gốc và lãi mà anh K phải đóng trong ngày 27/6/2023). Anh K đã thanh toán xong tiền gốc và trả tiền lãi là: 2.500.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 2.226.027 đồng.

Ngày 27/7/2023, anh Đặng Duy K vay bát họ góp 30.000.000 đồng (nguồn gốc số tiền V, L sử dụng để cho vay là tiền gốc đã thu của lần vay ngày 03/6/2023, ngày 26/6/2023 và thêm 10.000.000 đồng), trả gốc và lãi ngày là 350.000 đồng, thời hạn trong 150 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Do bát họ vay ngày 26/6/2023, anh K còn nợ 6.750.000 đồng, nên VL chỉ đưa cho anh K thêm 23.250.000 đồng. Anh K đã trả tiền gốc là: 4.400.000 đồng và trả tiền lãi 22 ngày là 3.300.000 đồng, trong đó VL thu lợi bất chính là: 2.938.356 đồng. Anh K còn nợ tiền gốc là: 25.600.000 đồng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L phải liên đới trả lại cho những người vay số tiền lãi đã thu từ mức lãi suất vượt quá mức lãi suất theo quy định tổng số tiền là 38.791.889 đồng; cụ thể: Trả lại cho chị Trần Thị N 5.408.219 đồng; trả lại cho chị Lê Thị H 5.342.466 đồng; trả lại cho chị Bùi Thị N1 11.458.221 đồng; trả lại cho chị Lê Thị Bích D 9.192.573 đồng; trả lại cho anh Đặng Duy K 7.390.410 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 16/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã dùng số tiền 164.600.000 đồng và cho 05 người vay, với lãi suất từ 168,5%/năm đến 730%/năm nhằm thu lợi bất chính 38.791.889 đồng; Đối với số tiền của anh Đặng Duy K còn nợ tiền gốc là 25.600.000 đồng của bị cáo V, L. Tại phiên tòa các bị cáo V, L đều xác nhận đã nhận của anh K số tiền 25.600.000 đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 27; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử phạt: Tạ Hữu V với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng cải tại không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 27; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử phạt: Phạm Thị Hồng L với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tại không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; về việc khấu trừ thu nhập: Áp dụng khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo; về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo xâm phạm hoạt động quản lý Nhà nước về kinh tế để thu lợi bất chính, nên phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; áp dụng khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao: Buộc các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L phải liên đới nộp lại số tiền thu lời bất chính để thu nộp ngân sách nhà nước là 100.250.000 đồng; buộc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Bùi Thị N1 phải nộp lại số tiền 11.750.000 đồng; chị Lê Thị Bích D phải nộp lại số tiền 27.000.000 đồng là tiền gốc còn lại chưa bị cáo để thu nộp ngân sách nhà nước; Buộc bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L phải liên đới nộp lại khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm để thu nộp ngân sách nhà nước là 4.538.081 đồng; Buộc bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L phải liên đới nộp lại khoản tiền gốc mà anh Đặng Duy K đã trả cho các bị cáo là 25.600.000 đồng; Buộc bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L phải liên đới trả lại cho những người vay số tiền lãi đã thu từ mức lãi suất vượt quá mức lãi suất theo quy định: Trả lại cho chị Trần Thị N 5.408.219 đồng; trả lại cho chị Lê Thị H 5.342.466 đồng; trả lại cho chị Bùi Thị N1 11.458.221 đồng; trả lại cho chị Lê Thị Bích D 9.192.573 đồng; trả lại cho anh Đặng Duy K 7.390.410 đồng; về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

+ Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

[2] Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị Trần Thị N, chị Lê Thị H, chị Bùi Thị N1, chị Lê Thị Bích D, anh Đặng Duy K là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2023 đến ngày 14/8/2023, tại địa bàn quận H, thành phố Hải Phòng, bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L đã sử dụng số tiền 164.600.000 đồng cho 05 người vay với mức lãi suất từ 168,5%/năm đến 730 %/năm, thu lợi bất chính số tiền là 38.791.889 đồng, vượt mức lãi suất cao nhất 20% theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, hành vi của các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm mới có tác giáo giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng một mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Xét vai trò đối với các bị cáo:

[7] Bị cáo V là người lên kế hoạch tính lãi và đưa tiền cho bị cáo L đi tìm khách vay, làm thủ tục và thu tiền lãi và cùng nhau thoả thuận quy định mức thu tiền lãi suất cho vay nên bị cáo V phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo L.

- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[8] Các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[9] Xét bị cáo Tạ Hữu V nhân thân có tiền án năm 1988, mặc dù đã được xóa án nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[10] Xét bị cáo Phạm Thị Hồng L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[11] Xét các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ có nơi cư trú rõ ràng. Đến nay hành vi phạm tội của bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cho các bị cáo được áp dụng theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.

[12] Bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L đều bị tạm giữ 08 ngày từ ngày 15/8/2023 đến ngày 23/8/2023 được chuyển đổi bằng 24 ngày cải tạo không giam giữ.

- Về việc khấu trừ thu nhập:

[13] Các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L đều phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét, do các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L.

- Về hình phạt bổ sung:

[14] Ngoài hình phạt chính, các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét, các bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước cho vay để thu lời bất chính, nên cần phạt tiền bị cáo Tạ Hữu V phải nộp 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước; phạt tiền bị cáo Phạm Thị Hồng L 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

- Về các biện pháp tư pháp:

[15] Căn cứ Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

[16] Buộc các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L phải liên đới nộp lại số tiền gốc đã sử dụng vào việc phạm tội là: 100.250.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

[17] Buộc các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L phải liên đới nộp lại khoản tiền gốc mà anh Đặng Duy K đã trả cho các bị cáo là 25.600.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

[18] Buộc các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L phải liên đới nộp lại khoản tiền lãi 20% theo quy định mà các bị cáo được nhận từ những người vay với số tiền là 4.538.081 đồng, nên cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước.

[19] Buộc các bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L phải liên đới trả lại cho những người vay số tiền lãi đã thu từ mức lãi suất vượt quá mức lãi suất theo quy định tổng với số tiền là 38.791.889 đồng: Cụ thể:

  • - Trả lại cho chị Trần Thị N 5.408.219 (năm triệu, bốn trăm linh tám nghìn, hai trăm mười chín) đồng;
  • - Trả lại cho chị Lê Thị H 5.342.466 (năm triệu, ba trăm bốn mươi hai nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu) đồng;
  • - Trả lại cho chị Bùi Thị N1 11.458.221 (mười một triệu, bốn trăm lăm mươi tám nghìn, hai trăm hai mươi mốt) đồng;
  • - Trả lại cho chị Lê Thị Bích D 9.192.573 (chín triệu, một trăm chín mươi hai nghìn, lăm trăm bảy mươi ba) đồng;
  • - Trả lại cho anh Đặng Duy K 7.390.410 (bảy triệu, ba trăm chín mươi nghìn, bốn trăm mười) đồng.

+ Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Bùi Thị N1 phải nộp lại số tiền 11.750.000 (mười một triệu, bảy trăm lăm mươi nghìn) đồng; chị Lê Thị Bích D phải nộp lại số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tạ Hữu VPhạm Thị Hồng L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị N, chị Lê Thị H, chị Bùi Thị N1, chị Lê Thị Bích D, anh Đặng Duy K vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - CQĐT - Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV 06 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Hữu V - Phạm Thị Hồng L Cho vay lãi nặng trong GDDS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger