TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 34/2023/HS-ST Ngày 24-10-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Ký; 2. Bà Lê Thị Bảy.
Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa: Ông Đỗ Kế Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Anh T; Sinh ngày 19 tháng 12 năm 1997 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thanh B và bà Trịnh Thị T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không ; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2023 đến ngày 10/8/2023, sau đó được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Anh Lê Đình S, sinh năm 1986; 2. Chị Hắc Thị N, sinh năm 1992;
Đều cư trú tại: Khu phố X, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt anh Lê Đình S; vắng mặt chị Hắc Thị N).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Anh T:
- Chị Trịnh Thị T1, sinh năm 1975 (Có mặt).
Nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Phan Văn K, sinh năm 2007; Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
- Chị Lê Thị B1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
- Anh Vi Văn C, sinh năm 1994; Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho anh Phan Văn K: Chị Lê Thị H, sinh năm 1964; Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đó đã từng vào nhà chị Hắc Thị N ở khu phố X, thị trấn Y, huyện N một số lần nên Nguyễn Anh T (nơi ở không cố định, thường xuyên đến nhà bố đẻ ở khu phố X, thị trấn Y, huyện N sinh sống) biết rõ đặc điểm khu vực nhà ở của gia đình chị N. Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/5/2023, lợi dụng điều kiện trời mưa, lại mất điện nên T mang theo 01 bì xác rắn, 01 đoạn dây dù đột nhập vào nhà chị Hắc Thị N để trộm cắp tài sản. T trèo tường vào trong vườn, lấy 01 hàng rào bằng kim loại ở bụi luồng, dùng làm thang để trèo mái tôn che bể nước phía trước bên trái nhà theo hướng từ ngoài đường H nhìn vào, bám vào cục nóng điều hoà và trèo lên ban công tầng 2. Sau đó, mở cửa ban công tầng 2 để đi vào bên trong nhà (cửa ban công tầng hai nhà chị N không khóa mà chỉ khép lại), đi theo cầu thang xuống tầng 1 ngôi nhà. Lúc này, quan sát thấy vợ chồng chị N và 02 con nhỏ đang nằm ngủ ở trước cửa ra vào, T tiến lại gần lấy 01 chiếc điện thoại SamSung Galaxy Note 9, màu đen và 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A11, màu đen bỏ vào túi quần. Tiếp đó, T đi vào bên trong căn phòng ngủ gần đó lấy được 01 con lợn đất màu đỏ đựng tiền tiết kiệm để trên nóc két sắt, cho vào trong bì xác rắn. Sau đó đi theo đường cũ để lên tầng hai, buộc dây dù vào chiếc bì xác rắn, thả xuống mái tôn, rồi trèo xuống theo đường đã đột nhập vào, đặt lại thang bằng hàng rào kim loại lại vị trí cũ, sau đó trèo tường thoát ra bên ngoài.
Lấy được tài sản, T đem ra khe suối gần đó, đập vỡ con lợn đất, kiểm tra thấy có số tiền 9.200.000 đồng nên lấy tiền bỏ vào túi quần, vứt các mảnh vỡ của con lợn đất xuống khe nước rồi đi về nhà bố đẻ, trên đường đi T tiếp tục vứt bỏ chiếc bì xác rắn và đoạn dây dù ở phía sau nhà; 02 chiếc điện thoại, kiểm tra phát hiện có 01 chiếc Samsung Galaxy 11 chính là điện thoại của T đã cầm cố cho chị N trước đó, T tắt nguồn rồi dấu dưới đệm giường ngủ.
Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, T đi đến nhà chị N để thăm dò, sau đó đem số tiền trộm cắp được đi chuộc xe máy, trả nợ, mua đồ câu cá rồi đi lên xã T để câu cá. Đến ngày 13/8/2023, T về nhà lấy 02 chiếc điện thoại đã trộm cắp được của gia đình chị N rồi tháo, vứt thẻ sim và quay lên xã T, nhờ bạn là Phan Văn K, sinh năm 2007 ở thôn L, xã T, huyện N dẫn đi bán. K dẫn T đến cửa hàng điện thoại “C" ở thôn Đ, xã T, huyện N bán chiếc điện thoại S2 A11 với giá 700.000 đồng, thuê bẻ khóa chiếc điện thoại S2 Note 9 hết 300.000 đồng, sau đó bán nợ cho K chiếc điện thoại này với giá 1.000.000 đồng.
Đến ngày 17/5/2023, sau khi được Cơ quan điều tra triệu tập, Nguyễn Anh T đã đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại về đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt, phù hợp với vật chứng vụ án đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Kết luận định giá tài sản số: 11/KL-ĐGTS ngày 21/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản của Ủy ban nhân dân huyện N xác định:
- Giá trị của chiếc điện thoại S2 9, màu đen tại thời điểm bị trộm cắp là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
- Giá trị của chiếc điện thoại SamSung A11, màu đen tại thời điểm bị trộm cắp là 1.000.000đ (Một triệu đồng).
- Giá trị của con lợn đất màu đỏ tại thời điểm bị trộm cắp là 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng).
Khi báo tin về tội phạm và trong quá trình điều tra, chị Hắc Thị N khai bên trong con lợn đất bị mất trộm có khoảng 30.000.000 đồng nhưng bị cáo T khai đã kiểm đếm và xác định chỉ có 9.200.000 đồng; Cơ quan điều tra cũng không thập được chứng cứ, tài liệu nào khác chứng minh cụ thể số tiền có trong con lợn đất của gia đình chị N. Do đó, chỉ có căn cứ xác định số tiền trong con lợn đất bị cáo đã chiếm đoạt là 9.200.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt được là 14.240.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định chị Lê Thị B1, chị Nguyễn Thị H1 và anh Đỗ Văn Đ là những người đã nhận tiền trả nợ, chuộc tài sản của T; anh Phan Văn K là người dẫn T đi bán điện thoại, đồng thời còn trực tiếp mua chiếc điện thoại Samsung Note 9; anh Vi Văn C là chủ cửa hàng điện thoại “Châu Nhiệt S1” là người mua chiếc điện Samsung Galaxy A11, bẻ khóa chiếc điện thoại Samsung Note 9 của T. Tuy nhiên những người trên không biết khoản tiền T trả, các tài sản T đem bán là do trộm cắp được mà có nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với những người này.
Quá trình điều tra, do có nghi ngờ về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thân đối với bị cáo. Kết quả giám định tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 300/KLGĐ ngày 11/09/2023 của V xác định: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo Nguyễn Anh T bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Tại các thời điểm trên bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tuy nhiên, bị cáo T đã có đơn từ chối yêu cầu người bào chữa và đưa chị Trịnh Thị T1 (là mẹ đẻ bị cáo T) làm người đại diện hợp pháp cho bị cáo trong vụ án này.
Kết quả xác minh về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo xác định bị cáo Nguyễn Anh T chưa từng bị kết án, xử phạt vi phạm hành chính, nay phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Quá trình điều tra bị hại là anh Lê Đình S, chị Hắc Thị N đã nhận lại 02 chiếc điện thoại di động mà bị cáo T đã trộm cắp. Ngoài ra, trước khi mở phiên tòa giữa bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị cáo T là chị Trịnh Thị T1 đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về số tiền bị cáo T phải bồi thường, cụ thể là: Bị cáo T phải bồi thường cho gia đình anh S, chị N số tiền 12.000.000 đồng (trong đó: số tiền đưa trước là 9.000.000 đồng, số tiền còn lại là 3.000.000 đồng chị T1 sẽ trả tiếp trong thời gian sớm nhất). Do đó, tại phiên tòa hôm nay bị hại là anh S và chị N không yêu câu bị cao T phải bồ thường gì thêm.
Quá trình điều tra, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vi Văn C yêu cầu bị cáo T phải trả lại cho anh số tiền 700.000 đồng mà anh C đã bỏ ra mua chiệc điện thoại bị cáo T trộm cắp được (chiến điện thoại này đã bị thu giữ và trả lại cho gia đình bị hại); chị Lê Thị B1 yêu cầu bị cáo T phải trả cho chị số tiền 800.000 đồng mà bị cáo T đã dùng tiền trộm cắp để trả nợ cho chị trước đó (số tiền nêu trên đã bị thu giữ và trả lại cho gia đình bị hại). Tuy nhiên, trước ngày mở phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh C và chị B1 đều có đơn từ chối yêu cầu bồi thường đối với bị cáo Nguyễn Anh T.
Bản cáo trạng số: 33/CT-VKSNX ngày 29/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T với mức án từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Anh T là chị Trịnh Thị T1 nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giảm nhẹ cho bị cáo T một phần hình phạt; đồng thời đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm thành người công dân tốt.
Bị hại anh Lê Đình S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Văn K và người đại diện hợp pháp cho anh K là chị Lê Thị H không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đinh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/5/2023, bị cáo Nguyễn Anh T đã lén lút, bí mật đột nhập vào nhà anh Lê Đình S, chị Hắc Thị N ở khu phố X, thị trấn Y, huyện N trộm cắp 01 chiếc điện thoại SamSung Galaxy Note 9 trị giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), 01 chiếc điện thoại SamSung Galaxy A11 trị giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và 01 con lợn đất trị giá 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng), bên trong có số tiền 9.200.000 đồng của gia đình anh Lê Đình S, chị Hắc Thị N. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Anh T trộm cắp là 14.240.000đ (Mười bốn triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173, như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Tại thời điểm gây án, bị cáo có bệnh bị hạn chế năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, tuy nhiên, bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình gây ra. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại kinh tế cho người khác, gây mất trật tự và an toàn xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm đối với bị cáo để trừng trị và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu và tại phiên tòa bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm. Ngoài ra, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt: Do bị cáo Nguyễn Anh T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, đồng thời cũng phù hợp với Điều 65 của Bộ luật hình sự.
[6] Về phần hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, bản thân bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS làm hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
[7.1] Bị cáo và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại là anh S, chị N số tiền 12.000.000 đồng (trong đó: số tiền đưa trước là 9.000.000 đồng, số tiền còn lại là 3.000.000 đồng bị cáo và gia đình sẽ trả tiếp trong thời gian sớm nhất). Do đó, tại phiên tòa hôm nay bị hại không yêu câu bị cao T phải bồ thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7.2] Quá trình điều tra, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vi Văn C yêu cầu bị cáo T phải trả lại cho anh số tiền 700.000 đồng; chị Lê Thị B1 yêu cầu bị cáo T phải trả cho chị số tiền 800.000 đồng. Tuy nhiên, trước ngày mở phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh C và chị B1 đều có đơn từ chối yêu cầu bồi thường đối với bị cáo Nguyễn Anh T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng:
[8.1] Đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại Galaxy A11, màu đen, không có thẻ sim; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại Galaxy Note 9, màu đen, không có thẻ sim; số tiền 800.000 đồng. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc điện thoại di động và số tiền 800.000 đồng nêu trên là tài sản hợp pháp của chị Hắc Thị N, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý, trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp theo quy định. Hội đồng xét xử không xem xét.
[8.2] Đối với: 03 mảnh vỡ màu trắng đục, một mặt được sơn màu đỏ có kích thước lần lượt là 1,2cm x 0,9cm, 0,9cm x 0,5cm và 4,7cm x 3,4cm; 01 chiếc bì xác rắn màu xanh xám kích thước 60,9cm x49,1cm và 01 đoạn dây dù màu trắng đục chấm đen dài 65,6cm. Đây là những vật chứng của vụ án mà bị cáo dùng vào việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 01/2024/TSTV, ngày 05/10/2023 giữa Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
[9] Về các vấn đề khác:
[9.1] Đối với: Chị Lê Thị B1, chị Nguyễn Thị H1 và anh Đỗ Văn Đ là những người đã nhận tiền trả nợ, chuộc tài sản của T; anh Phan Văn K là người dẫn T đi bán điện thoại, đồng thời còn trực tiếp mua chiếc điện thoại Samsung Note 9; anh Vi Văn C là chủ cửa hàng điện thoại “Châu Nhiệt S1” là người mua chiếc điện Samsung Galaxy A11, bẻ khóa chiếc điện thoại Samsung Note 9 của T. Tuy nhiên những người trên không biết khoản tiền T trả, các tài sản T đem bán là do trộm cắp được mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với những người này là phù hợp.
[9.2] Đối với việc bị cáo Nguyễn Anh T được V xác định: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo Nguyễn Anh T bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Tại các thời điểm trên bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo T đã có đơn từ chối yêu cầu người bào chữa. Do đó, Cơ quan tố tụng không chỉ định người bào chữa cho bị cáo trong vụ án này là phù hợp theo quy định tại Điều 77 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9.3] Án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí theo quy định.
[9.4] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 24 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/10/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Anh T cho UBND xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Anh T có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 03 mảnh vỡ màu trắng đục, một mặt được sơn màu đỏ có kích thước lần lượt là 1,2cm x 0,9cm, 0,9cm x 0,5cm và 4,7cm x 3,4cm; 01 chiếc bì xác rắn màu xanh xám kích thước 60,9cm x49,1cm và 01 đoạn dây dù màu trắng đục chấm đen dài 65,6cm. Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 01/2024/TSTV, ngày 05/10/2023 giữa Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Về phần án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Công Tuấn |
Bản án số 34/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh T, phạm tội "Trộm cắp tài sản"
