Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 - 07 - 2024

V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Trung Thành

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thuỷ

Bà Nguyễn Thị Thi

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 03 năm 2024 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Hồng B, sinh năm 1992; có mặt

Địa chỉ nơi thường trú: Thôn L, xã X, thị xã S, TP ..

Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, TP .

- Bị đơn: Anh Hoàng Trung T, sinh năm 1986. có đơn xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã X, thị xã S, TP. .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các bản tự khai tiếp theo tại Toà án, chị Phùng Thị Hồng B trình bày: Chị đăng ký kết hôn cùng anh Hoàng Trung T vào ngày 21/12/2010, trên cơ sở được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã S. Sau khi hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán chị về sống chung cùng anh T và gia đình tại thôn L, xã X, thị xã S.

Ngay từ những ngày đầu mới về sống chung cùng nhau nhưng tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T bình thường vì vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống nên thường xẩy ra cãi nói nhau, dần dần tình cảm vợ chồng lạnh nhạt và ít nói chuyện tâm sự cùng nhau nên chị và anh T sống chung không có hạnh phúc. Vì vậy, tháng 1 năm 2023 chị thuê nhà ở riêng, không sống chung cùng anh T nữa. Cũng từ đó chị và anh T chấm dứt mọi quan hệ không ai quan tâm đến ai nữa. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung cùng anh T được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Hoàng Minh T1, sinh ngày 04/10/2015 và Hoàng Minh P, sinh ngày 14/01/2020. Hiện nay, các cháu đang sống chung cùng chị. Sau khi ly hôn chị đồng ý giao cháu P cho anh T nuôi, chị nuôi cháu T1, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ: Không có

- Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai của anh Hoàng Trung T, anh T trình bày: Anh và chị B tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã S vào ngày 25/12/2010. Thời gian xẩy ra mâu thuẫn từ tháng 3 năm 2023, nguyên nhân do kinh tế và một số việc phát sinh khác nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay, đã được chính quyền hòa giải nhưng không thành. Tòa án cũng tạo điều kiện về mặt thời gian theo đề nghị của anh, mục đích để anh nói chuyện với chị B về sống chung cùng anh, nhưng anh đã không làm được điều đó vì chị B không về sống chung cùng anh. Anh không muốn ly hôn, nhưng chị B vẫn kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị B có 02 con chung là Hoàng Minh T1, sinh ngày 04/10/2015 và Hoàng Minh P, sinh ngày 14/01/2020. Hiện nay, các cháu đang sống chung cùng chị B. Anh đề nghị mỗi người nuôi một con và anh nuôi con nào cũng được.

Về tài sản chung và nợ: Không có.

Tại phiên tòa, chị B kiên quyết xin được ly hôn anh Hoàng Trung T vì xác định tình cảm vợ chồng không còn. Về con chung, do cháu T1 có nguyện vọng được sống chung cùng chị nên chị đề nghị được nuôi cháu T1 và đồng ý giao cháu P cho anh T nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ: Không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phùng Thị Hồng B. Chị B được ly hôn anh Hoàng Trung T2. Về con chung giao cháu Hoàng Minh T1, sinh ngày 04/10/2015 cho chị B nuôi; Giao cháu Hoàng Minh P, sinh ngày 14/01/2020 cho anh T nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung và đều có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ: Không có.

Về án phí: Chị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Phùng Thị Hồng B có đơn xin ly hôn anh Hoàng Trung T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn L, xã X, thị xã S và quan hệ tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ trình tự tố tụng và đã giao các Văn bản tố tụng, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Hoàng Trung T và anh T có đơn xin được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như khi Tòa án xét xử vụ án nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, căn cứ Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Anh Hoàng Trung T có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phùng Thị Hồng B và anh Hoàng Trung T trên cơ sở kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21/12/2010 tại UBND xã X, thị xã S nên xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngay từ những ngày đầu mới cưới, chị B và anh T sống chung đã xẩy ra mâu thuẫn cãi nói nhau, nguyên nhân do kinh tế và do bất đồng về quan điểm sống nên vợ chồng sống chung không có hạnh phúc. Vì vậy, chị B đã chủ động thuê nhà ở riêng từ năm 2023 cho đến nay không sống chung cùng anh T nữa. Mặc dù, anh T có gọi chị B về để vợ chồng sống chung cùng nhau nhưng chị B không về. Như vậy, từ năm 2023 cho đến nay chị B và anh T sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai nữa nên chị B đề nghị được ly hôn anh T. Phía anh T không muốn ly hôn, nhưng do chị B kiên quyết ly hôn nên anh T cũng đồng ý. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị B được ly hôn anh T.

- Về con chung: Chị B và anh T có 02 con chung là Hoàng Minh T1, sinh ngày 04/10/2015 và Hoàng Minh P, sinh ngày 14/01/2020. Nguyện vọng của cháu T1 được sống chung cùng chị B nên giao cháu T1 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu P cho anh T nuôi là phù hợp.

- Về tài sản chung và nợ: Chị B và anh T đều xác định không có.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án .

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Phùng Thị Hồng B.

1.1 Chị Phùng Thị Hồng B được ly hôn anh Hoàng Trung T.

1.2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Minh T1, sinh ngày 04/10/2015 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Hoàng Minh P, sinh ngày 14/01/2020 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tạm hoãn nghĩa vụ nuôi con chung cho chị Phùng Thị Hồng B và anh Hoàng Trung T đến khi có yêu cầu mới hoặc có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh T và chị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

1.3. Về tài sản chung và nợ: Không có.

2. Về án phí: Chị Phùng Thị Hồng B phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000883 ngày 22/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự: Chị Phùng Thị Hồng B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Hoàng Trung T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhân

- TAND thành phố Hà Nội;

- VKSND thị xã Sơn Tây;

- THADS thị xã Sơn Tây;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà

Đặng Trung Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger