Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Mai Hương;

Bà Đỗ Thị Viện;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Quàng Thị T, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1978 tại Điện Biên. Nơi cư trú: bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn X (đã chết) và bà Lường Thị M; có chồng là Cà Văn T1 (đã chết) và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPHC ngày 16-01-2022 của Công an huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt Quàng Thị T 1.500.000đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý (chưa được xoá); Nhân thân: Có 01 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37/QĐ-XPHC ngày 24-8-2020 của Công an huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt Quàng Thị T 1.500.000đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá); bị tạm giữ từ ngày 18-01-2024 đến ngày 19-01-2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Quàng Thị T: Ông Phạm Duy Khoa - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Lò Văn C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua ma túy để trả công cho các công nhân và bán cho những người nghiện khác kiếm lời, ngày 02-12-2022, Trần Công C1 sử dụng số điện thoại 0912.698.xxx của mình liên lạc tới số điện thoại 0824.649.xxx của Lò Văn T2 để hỏi mua ma tuý Heroine. Lò Văn T2 giới thiệu cho Trần Công C1 số điện thoại 0796.092.xxx của Lò Văn C để hai bên tự giao dịch mua bán ma tuý với nhau.

Lần thứ nhất: Ngày 03-12-2022, Trần Công C1 sử dụng tài khoản số [...] mang tên “TRAN CONG C1” tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chuyển vào tài khoản số 1602111991 mang tên “LO VAN C” tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội số tiền 20.000.000đồng để mua Heroine. Sau khi nhận được tiền, chiều cùng ngày, C đến khu vực cầu bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên gặp Quàng Thị T để hỏi mua Heroine, Quàng Thị T đồng ý. Chức sử dụng số tài khoản Ngân hàng trên của mình chuyển vào tài khoản số 36010000703242 mang tên “QUANG THI T” tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam số tiền 12.600.000đồng. Quàng Thị T đi tìm mua ma túy thì gặp một người đàn ông không quen biết. T hỏi và mua của người này 4.000.000đồng ma túy Heroine rồi quay về đưa cho C 01 cục ma túy Heroine bọc bằng túi nilon màu trắng. Chức mang số ma túy về nhà, lấy dao lam cắt 1/4 số ma túy để sử dụng cho bản thân, phần còn lại C cho vào bao tải màu hồng đỏ chứa quả Táo mèo, mang ra khu vực ngã ba T, huyện T, tỉnh Điện Biên chuyển cho Trần Công C1 theo đường xe khách về bến xe Đ.Lần thứ hai: Ngày 19-12-2022, Trần Công C1 sử dụng tài khoản của mình chuyển vào số tài khoản của Lò Văn C 40.000.000đồng để mua Heroine. Sau khi nhận được tiền, chiều cùng ngày, Lò Văn C đến cầu bản N gặp Quàng Thị T, Lò Văn C chuyển khoản cho Quàng Thị T 24.000.000đồng để mua Heroine. Quàng Thị T tiếp tục đi tìm mua ma túy thì gặp một người đàn ông không quen biết và mua của người này 4.000.000 đồng ma túy Heroine, sau đó về đưa cho C 01 cục ma túy bọc bằng túi nilon màu trắng. Chức mang ma túy về nhà, lấy dao lam cắt 1/5 số ma túy để sử dụng cho bản thân, phần còn lại C cho vào bao tải màu xanh chứa quả Táo mèo, mang ra khu vực ngã ba T, huyện T, tỉnh Điện Biên chuyển cho Trần Công C1 theo đường xe khách về bến xe Đ. Sau khi nhận được ma túy của C, Trần Công C1 cùng với Lường Văn P, Tòng Văn C2, Lường Văn P1, Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4, Lò Văn H, Quàng Văn K1 mang ma túy về chia nhỏ ma túy để phát cho khoảng 25 công nhân sử dụng thay cho việc trả công và bán cho những người nghiện khác để kiếm lời tại Khách sạn B thuộc tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, Hải Phòng.

Ngày 28-12-2022, Lường Văn P đưa H1 cho Nguyễn Văn T4 để mang cùng cơm trưa ra ngoài công trường phát cho các công nhân. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, tại công trường trong Khu D, tổ H, phường V, Đ, Hải Phòng, T4 đưa cho

2

Tòng Văn C2 01 gói Heroine, C2 cầm gói Heroine ở lòng bàn tay phải định chia cho các công nhân thì bị Công an quận Đồ Sơn phát hiện bắt quả tang.

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 28-12-2022, tại Khách sạn B Công an quận Đồ Sơn bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải Lường Văn P đang mặc 01 túi nilon bên trong có chứa H1, P khai nhận số Heroine dùng để bán cho người khác nhưng chưa thực hiện được thì bị bắt quả tang; thu giữ trong túi quần phía trước bên phải Vũ Văn C3 đang mặc 02 gói giấy bạc kích thước đều nhau (1,5 x 1,2) cm bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, C3 khai nhận đó là ma tuý Heroine mua của Lường Văn P.

Tiến hành khám xét khẩn cấp, khám nghiệm hiện trường tại Khách sạn B, Cơ quan điều tra thu giữ:

Tại phòng ngủ của Lường Văn P ở tầng 2: 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước (1,9 x 1,4) cm bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước (01 x 0,8) cm bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 vỏ bao dứa màu xanh.

Tại nhà vệ sinh tầng 4: 01 cân tiểu ly màu nâu; 01 kéo, 05 dao tem, 01 dao phay, 22 mảnh giấy bạc kích thước đều nhau (4,3 x 2,3) cm.

Tại khe thông gió nhà vệ sinh phòng 402 tầng 4: 01 túi nilon màu xanh, kích thước (7,5 x 11,5) cm, bên trong chứa 36 gói giấy bạc, kích thước đều nhau (0,8 x 01) cm, bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon màu xanh, kích thước (7,5 x 11,5)cm, bên trong chứa 51 gói giấy bạc, kích thước đều nhau (0,8 x 01) cm, bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01 cục chất bột màu trắng, bên ngoài được bọc bằng băng dính màu trắng, có kích thước (05 x 3,5 x 3,5) cm.

Tại Bản kết luận giám định số 128/KL-KTHS (MT) ngày 31-12-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,04 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu số 3 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,02 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu số 4 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,17 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu số 5 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,18 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu số 6 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,15 gam, loại Heroine”.

Tại Bản kết luận giám định số 129/KL-KTHS (MT) ngày 31 tháng 12 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,39 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,97 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu số 3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 21,44 gam, loại Heroine”.

Tổng khối lượng ma túy Heroine bị thu giữ là 26,59 gam.

3

Ngày 06-01-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn đã khởi tố Trần Công C1, Lường Văn P, Tòng Văn C2, Lường Văn P1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; khởi tố Vũ Văn C3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Ngày 22-3-2023, Lò Văn C đến Công an quận Đồ Sơn đầu thú.

Ngày 24-3-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn đã khởi tố Lò Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại Bản án số 18/2023/HS-ST ngày 04-7-2023, Toà án nhân dân quận Đồ Sơn xét xử và tuyên phạt Vũ Văn C3 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án số 32/2023/HS-ST ngày 22-9-2023, Toà án nhân dân quận Đồ Sơn xét xử và tuyên phạt Trần Công C1 14 năm tù, Lường Văn P 12 năm tù, Lò Văn C 11 năm tù, Tòng Văn C2 07 năm 03 tháng tù, Lường Văn P1 07 năm 03 tháng tù cùng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Ngày 17-01-2024, Cơ quan điều tra bắt truy nã đối với Quàng Thị T.

Quá trình điều tra, truy tố Quàng Thị T khai nhận: T có quen biết với Lò Văn C.

Ngày 03-12-2022, tại khu vực bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, Lò Văn C chuyển cho Quàng Thị T 12.600.000đồng để đổi lấy tiền mặt. Sau khi T đưa tiền mặt, C đưa lại cho T 4.000.000 đồng nhờ mua “thuốc”, T không biết là thuốc gì, có công dụng gì nhưng vẫn nhận lời do C là người quen. T cầm tiền đi lang thang tìm mua “thuốc” thì gặp 01 người đàn ông không quen biết đi trên đường. Người này chủ động hỏi T đi đâu, làm gì thì T trả lời là muốn mua 4.000.000 đồng tiền “thuốc”. Sau đó người này bán cho T 01 cục chất rắn bọc bằng túi nilon, T không nhìn được đặc điểm chất rắn này, T trả 4.000.000đồng bằng tiền vừa nhận của C. Sau khi lấy được “thuốc”, T mang bọc chất rắn quay về đưa cho C. Tại Cơ quan điều tra, T mới được biết “thuốc” T mua hộ cho C là ma túy Heroine.

Ngày 19-12-2022, tại khu vực bản N, xã Q, T, Điện Biên, Lò Văn C chuyển cho Quàng Thị T 24.000.000đồng để đổi lấy tiền mặt cho C xây nhà, T đồng ý và đưa tiền cho C. Không có việc T nhận tiền của C để đi mua ma túy.

Số tiền mặt T đưa cho C có nguồn gốc từ việc T bán lợn, gà mà có, T luôn giữ tiền mặt trong người.

Quá trình điều tra, truy tố Quàng Thị T không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa hôm nay, T đã khai nhận việc 02 lần bán trái phép chất ma túy Heroine cho Lò Văn C như đã nêu trên, cụ thể: Vào ngày 03-12-2022, tại khu vực cầu bản N, xã Q, huyện T, Điện Biên, bị cáo đã bán 12.600.000đồng Heroine cho

4

Lò Văn C. Ngày 19-12-2022, tại khu vực cầu bản N, xã Q, huyện T, Điện Biên, bị cáo đã bán 24.000.000đồng Heroine cho Lò Văn C. Số ma túy này bị cáo mua của người đàn ông không quen biết, mỗi lần bị cáo chỉ dùng 4 triệu đồng để đi mua ma túy, tổng cộng là dùng 8 triệu đồng để mua ma túy, số tiền 28.600.000đồng trong số tiền đã nhận của Lò Văn C là tiền bị cáo thu lợi bất chính để chi tiêu cá nhân.

Căn cứ vào lời khai của Quàng Thị T tại phiên tòa, lời khai của Lò Văn C, Trần Công C1; kết quả nhận dạng qua ảnh; kết quả sao kê tài khoản; kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định: Ngày 03-12-2022, Quàng Thị T bán trái phép 12.600.000đồng Heroine cho Lò Văn C; ngày 19-12-2022, Quàng Thị T bán trái phép 24.000.000đồng Heroine cho Lò Văn C, thu lời bất chính được 28.600.000đồng.

Về vật chứng của vụ án: Số ma túy đã thu giữ sau khi bắt quả tang Lường Văn P, Vũ Văn C3, Tòng Văn C2 và sau khi khám xét tại khách sạn B đã được xử lý theo Bản án số 32/2023/HS-ST ngày 22-9-2023 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ 01 thẻ ATM của Ngân hàng thương mại Cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam mang tên Quàng Thị T, số tài khoản là 36010000703242 được chuyển cùng hồ sơ vụ án. Qua kiểm tra, phát hiện trong tài khoản có số tiền 214.270.270 đồng, T khai nhận số tiền này là của T lao động tích cóp mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra lệnh phong toả tài khoản của Quàng Thị T.

Tại Cáo trạng số: 30/CT-VKSÐS ngày 25-7-2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng truy tố Quàng Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với Lò Văn T2 giới thiệu cho Trần Công C1 mua Heroine của Lò Văn C nhưng Lò Văn T2 không biết C1 mua ma túy về để làm gì; không biết trên thực tế C1 và C đã giao dịch mua bán Heroine với nhau cụ thể như thế nào; không có tài liệu chứng cứ, chứng minh việc Lò Văn T2 được hưởng lợi từ việc mua bán Heroine giữa C1 với C nên không có căn cứ để xử lý đối với Lò Văn T2.

Đối với các đối tượng Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4, Lò Văn H, Quàng Văn K1 hiện không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Quàng Thị T từ 11 năm đến 11 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt tiền đối với bị cáo Quàng Thị T mức 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

5

Truy thu số tiền 28.600.000đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính để sung Ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Quàng Thị T 01 thẻ ATM của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam mang tên Quàng Thị T số tài khoản 36010000703242 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.

Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 136/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn để đảm bảo Thi hành án cho bị cáo cho đến khi bị cáo thi hành xong các khoản tiền phải thi hành án.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Thị T do bị cáo thuộc hộ cận nghèo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Quàng Thị T có ý kiến:

Người bào chữa không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo là phụ nữ người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, đặc biệt bị cáo còn không biết chữ. Bị cáo cũng bởi kém hiểu biết, cuộc sống khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo tại địa phương nên vì muốn làm giàu nhanh chóng đã phạm tội. Bị cáo có ông nội và bố đẻ là người có công với cách mạng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội. Đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của Người bào chữa được Hội đồng xét xử ghi nhận, xem xét khi lượng hình đối với bị cáo Quàng Thị T.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng. Bị cáo đã nhận thức ra lỗi lầm, xin thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như lời khai của Lò Văn C là đúng. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

6

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Ngày 03-12-2022, tại khu vực cầu bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, Quàng Thị T đã bán trái phép 12.600.000đồng Heroine cho Lò Văn C. Số Heroine này, C mang bán cho Trần Công C1 thu được 20.000.000đồng, C1 bán cho những người nghiện ma tuý khác hết số H1 đã mua được. Quàng Thị T thu lợi bất chính được 8.600.000 đồng.

Ngày 19-12-2022, tại khu vực cầu bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, Quàng Thị T đã bán trái phép 24.000.000đồng Heroine cho Lò Văn C. Số Heroine này, Lò Văn C mang bán cho Trần Công C1 thu được 40.000.000 đồng, C1 bán cho những người nghiện ma tuý khác thì bị phát hiện, thu giữ được 26,59 gam Heroine. Quàng Thị T thu lợi bất chính được 20.000.000đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc mua, bán ma túy để bán lại là vi phạm pháp luật nhưng do mục đích kiếm lời nhanh chóng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Thị T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Quàng Thị T có hành vi hai lần bán ma túy cho Lò Văn C, sau đó Lò Văn C bán lại cho Trần Công C1, lượng ma túy qua giám định là 26,59gam H. Do vậy bị cáo Quàng Thị T phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b “Phạm tội hai lần trở lên”; điểm i “Heroine, Cocaine, Methamphetamine,

7

Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05gam đến dưới 30 gam” khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những hủy hoại sức khỏe mà còn làm băng hoại đạo đức con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Việc bài trừ tận gốc tệ nạn ma túy trong toàn xã hội đang được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện, tuy nhiên loại tội phạm này vẫn đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức được việc mua bán ma túy là trái pháp luật nhưng vì siêu lợi nhuận từ ma túy mang lại mà bị cáo Quàng Thị T vẫn bất chấp mua bán. Bởi vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Quàng Thị T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng bằng khen, Huy chương chiến sĩ vẻ vang Hạng nhì và ông nội là người có công với Cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì do đó bị cáo Quàng Thị T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thấy bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, nhân thân đã có hai tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” trong đó có 01 tiền sự chưa được xoá chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian, xét xử bị cáo trên khởi điểm của khung hình phạt để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.

[9] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo Quàng Thị T thu lợi bất chính được số tiền lớn, trong tài khoản trước khi bị phong tỏa có đủ số tiền để áp dụng hình phạt tiền bổ sung vì vậy có điều kiện để áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do vậy phạt tiền bị cáo Quàng Thị T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu) đồng.

[10] Về quan điểm bào chữa của Người bào chữa, Hội đồng xét xử xét thấy: Như đã phân tích tại các mục [5]; [6]; [7]; [8]; [9]; [10] do bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, cần có bản án thật nghiêm khắc để nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung nên không có cơ sở xét xử bị cáo ở mức án thấp hơn mức đề

8

nghị của đại diện Viện kiểm sát theo đề nghị của người bào chữa. Bị cáo có điều kiện để áp dụng hình phạt tiền bổ sung do đó không chấp nhận quan điểm của người bào chữa đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Chấp nhận quan điểm đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo thuộc hộ cận nghèo.

[11] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ:

Đối với: 01 thẻ ATM của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam mang tên Quàng Thị T số tài khoản 36010000703242 (Vật chứng được chuyển cùng Hồ sơ vụ án).

Xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 136/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn để đảm bảo Thi hành án cho bị cáo. Chuyển thẻ ATM này cho Cơ quan Thi hành án quản lý để đảm bảo Thi hành án cho bị cáo.

[12] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Quàng Thị T được miễn án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Quàng Thị T 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 18-01-2024.

Phạt tiền đối với bị cáo Quàng Thị T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu)đồng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Truy thu số tiền 28.600.000₫ (Hai mươi tám triệu sáu trăm nghìn) đồng là tiền bị cáo thu lời bất chính để sung Ngân sách Nhà nước.

Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 136/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn để đảm bảo Thi hành án cho bị cáo cho đến khi bị cáo thi hành xong các khoản tiền phải thi hành án.

Trả lại bị cáo 01 thẻ ATM của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam mang tên Quàng Thị T số tài khoản 36010000703242 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo Thi hành án. Chuyển thẻ ATM này cho Cơ quan Thi hành án quản lý để đảm bảo Thi hành án cho bị cáo.

9

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Thị T.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - PV 06, PC10 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;
  • - CA quận Đồ Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Đồ Sơn;
  • - VKSND quận Đồ Sơn;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phương

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quàng Thị T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger