1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:34/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-5-2024
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH – TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thái và ông Trần Ngọc Đức
-Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Thịnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Ý Chính - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về: Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXX - ST ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị G, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
Bị đơn: Anh Bàn Văn T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái
(Chị G, anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – Chị Phạm Thị G trình bày:
2
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Bàn Văn T tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 23-7-2013. Sau khi kết hôn chung sống tại tỉnh Bình Dương để làm ăn, quá trình chung sống anh T không tu trí làm ăn, chơi bời, không có trách nhiệm với gia đình vợ con. Đến năm 2015 chị đưa con về quê tại tỉnh Nghệ An sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng với anh T không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bàn Văn T.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung là Bàn Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 14-10-2013. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân, chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu. Tại địa phương chị làm tự do thu nhập nên chị xác định có đủ điều kiện để nuôi con. Do đó, để đảm bảo tốt nhất cho cháu, chị đề nghị Tòa án giao cháu cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Bị đơn – Anh Bàn Văn T có bản tự khai thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Phạm Thị G trên cơ sở có được tìm hiểu tự nguyện, không ai cưỡng ép, đăng ký kết hôn ngày 23-7-2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tỉnh Bình Dương để làm ăn, trong quá trình chung sống có mâu thuẫn, do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Đến năm 2015 thì chị G đã đưa con về quê tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến nay, chị G xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng với chị G không còn và nhất trí ly hôn.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung là Bàn Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 14-10-2013, kể từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu Quỳnh A do chị G trực tiếp nuôi dưỡng và hiện nay đang ở cùng với chị G. Anh nhất trí giao con cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tải sản và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án chị G có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Do đó, Toà án không tiến hành hoà giải được.
Ý kiến của con chung: Cháu Bàn Ngọc Quỳnh A có nguyện vọng ở với mẹ là
3
Phạm Thị G.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị G để xử cho chị Phạm Thị G được ly hôn với anh Bàn Văn T; Về nuôi con chung: Giao con chung là Bàn Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 14-10-2013 cho chị Phạm Thị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con; Về án phí: Chị Phạm Thị G phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Anh Bàn Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị G thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình
Chị Phạm Thị G và anh Bàn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị G và anh Bàn Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 23-7-2013, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị G và anh T đều xác định vợ chồng chung sống có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa và cũng đề
4
-
nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn. Từ đó có căn cứ cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Phạm Thị G và anh Bàn Văn T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị G là có căn cứ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để xử cho chị Phạm Thị G được ly hôn anh Bàn Văn T.
- Về nuôi con chung: Chị Phạm Thị G và anh Bàn Văn T có một con chung là Bàn Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 14-10-2013. Hai bên đều có đề nghị giao cháu A cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, anh T không cấp dưỡng nuôi con. Xét thoả thuận của anh chị là không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật và phù hợp với thực tế và nguyện vọng của con chung nên cần chấp nhận.
- Về chia tài sản và nợ chung: Chị Phạm Thị G và anh Bàn Văn T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện, thực tế khách quan của các đương sự nên chấp nhận.
- Về án phí: Chị Phạm Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị G được ly hôn anh Bàn Văn T.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Bàn Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 14-10-2013 cho chị Phạm Thị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo pháp luật, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phạm Thị G phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số: 0001316 ngày
5
23-4-2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (xác nhận chị G đã nộp đủ).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Lê Thị Thanh Nga |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thi G xin ly hôn Bàn Văn T
