Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/4/2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Em
  2. Ông Bùi Nhiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 36/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Th, sinh năm 1991

Bị đơn: Anh Th1, sinh năm 1989

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

Tại phiên tòa vắng mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Th trình bày: Chị và anh Th1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 17/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Anh Th1 bình thường rất hiền lành, yêu thương vợ con, nhưng khi nhậu nhẹt say xỉn, anh Th1 như một con người khác, rất thô lỗ cục cằn, đánh đập vợ. Anh Th1 nhậu thường xuyên nên khiến chị luôn sống trong sợ hãi. Sau nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh Th1 vẫn chứng nào tật náy. Từ tháng 02/2022, anh Th1 đã về nhà cha mẹ đẻ anh Th1 ở đến nay. Cả hai không ai liên lạc để hàn gắn tình cảm.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th1.

Về con chung: Chị và anh Th1 có 01 con chung tên Th2, sinh ngày 07/12/2015. Hiện nay con do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Th1: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Th1 đều vắng mặt không có lý do. Không có văn bản thể hiện ý kiến của anh Th1 về yêu cầu khởi kiện của chị Th. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, chị Th vắng mặt do có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Th1 vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn chị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về con chung với bị đơn anh Th1. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở Thôn L, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn chị Th vắng mặt do có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Th1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh Th1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 17/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo chị Th, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu mâu thuẫn do anh Th1 thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn, đánh đập vợ. Từ tháng 02/2022, anh chị đã không còn chung sống với nhau nữa, không còn liên lạc với nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Th1 nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th1. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau nhưng anh Th1 vắng mặt chứng tỏ anh Th1 không có thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị Th.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau. Nhưng giữa chị Th và anh Th1 không thực hiện được nghĩa vụ vợ chồng với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Th ly hôn với anh Th1 là phù hợp với thực tế và đúng qui định của pháp luật.

Về con chung: Khi ly hôn, chị Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Th2, sinh ngày 07/12/2015. Xét thấy, hiện nay cháu Th2 đang được chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Hiếu cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hiện tại của mẹ con chị Th đang ổn định, được học hành và chăm sóc đầy đủ nên việc để chị Th được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Anh Th1 không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • – Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • – Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • – Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th:

Về hôn nhân:

Chị Th được ly hôn anh Th1.

Về con chung:

Giao con chung tên Th2, sinh ngày 07/12/2015 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Th1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Về án phí:

Chị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0012982 ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Chị Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Chị Th và anh Th1 có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKS nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thu Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger