Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 34/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 22 - 12 - 2023

"V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Hải Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Diện

Bà Nguyễn Thị Lam

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang và bà Nông Thị T - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1985; (vắng mặt)
  • Trú tại: Đ, thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang
  • - Bị đơn: Anh Chương Văn H1, sinh năm1983; (vắng mặt)
  • Trú tại: Đ, thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 13/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đặng Thị H trình bày: chị và anh H1 chung sống với nhau từ năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang vào ngày 13/11/2008 theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H1 thường xuyên cờ bạc, rượu chè về đánh đập vợ, con, bán hết tài sản trong gia đình, không những vậy khi vợ ốm không có trách nhiệm, không chăm sóc quan tâm. Gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng anh H1 không thay đổi, mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và anh chị đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn gì, có níu kéo cũng không có hạnh phúc nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Chương Văn H1. Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 03 con chung là cháu Chương Thanh D, sinh ngày 14/04/2005, cháu Chương Minh T1, sinh ngày 01/01/2010 và cháu Chương Bảo A, sinh ngày 02/08/2017. Cháu Chương Thanh D đã đủ 18 tuổi nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu C Minh T1 và Chương Bảo A cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệp tập anh Chương Văn H1 nhiều lần nhưng anh H1 không có mặt để tham gia tố tụng, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại các biên bản xác minh của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với trưởng thôn L; công chức tư pháp UBND xã Đ; Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã Đ, mẹ đẻ chị Đặng Thị H, Phó Trưởng công an xã Đ phản ánh về tình trạng hôn nhân của chị Đặng Thị H và anh Chương Văn H1 như sau: chị Đặng Thị H và anh Chương Văn H1 tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2004 nhưng đến năm 2008 anh chị mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống lẫn tính cách, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình, Ban quản lý thôn hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân được 01 năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Hiện anh H1 đi làm ăn xa, vắng mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ nơi làm việc, tuy nhiên thỉnh thoảng anh H1 có về địa phương. Về con chung, quá trình chung sống anh chị có 03 con là cháu Chương Thanh D, sinh ngày 14/04/2005, cháu Chương Minh T1, sinh ngày 01/01/2010 và cháu Chương Bảo A, sinh ngày 02/8/2017. Cháu Chương Thanh D đã đủ 18 tuổi, trường hợp vợ chồng ly hôn, nên giao hai cháu Chương Minh T1 và Chương Bảo A cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ có điều kiện chăm sóc tốt hơn, do hiện nay anh H1 đi làm ăn xa.

Tại biên bản lấy lời khai cháu C Minh Trí ngày 16/11/2023, cháu T1 có nguyện vọng được ở với mẹ vì cháu thích ở với mẹ hơn và bố cháu cũng đi làm ở xa.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không đến tham gia tố tụng mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Chương Văn H1. Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 03 con là cháu Chương Thanh D, sinh ngày 14/04/2005, cháu Chương Minh T1, sinh ngày 01/01/2010 và cháu Chương Bảo A, sinh ngày 02/8/2017. Cháu Chương Thanh D đã đủ 18 tuổi, đề nghị Hội đồng xét xử giao các cháu C Minh T1 và Chương Bảo A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: nguyên đơn là chị Đặng Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là chị Đặng Thị H có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn là anh Chương Văn H1, anh Chương Văn H1 có nơi cư trú tại thôn L, xã Đ, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điêu 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Đặng Thị H vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Chương Văn H1 vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đặng Thị H và anh Chương Văn H1.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị H và anh Chương Văn H1 xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến khoảng năm 2010 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và tính cách, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị Đặng Thị H có yêu cầu xin ly hôn anh Chương Văn H1. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Chương Văn H1.

[4] Về việc nuôi con: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 03 con là cháu Chương Thanh D, sinh ngày 14/04/2005, cháu Chương Minh T1, sinh ngày 01/01/2010 và cháu Chương Bảo A, sinh ngày 02/8/2017. Cháu Chương Thanh D đã đủ 18 tuổi nên chị H không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Chương Minh T1 và Chương Bảo A cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh H1 không đến tham gia tố tụng và không trình bày ý kiến đề nghị giải quyết việc nuôi con; cháu Chương Minh T1 có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Chương Bảo A còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ hơn. Mặt khác, tại các biên bản xác minh điều kiện nuôi con với người thân và chính quyền địa phương cung cấp trường hợp vợ chồng ly hôn nên giao cả hai cháu Chương Minh T1 và Chương Bảo A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng sẽ có điều kiện chăm sóc tốt hơn. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả hai cháu Chương Minh T1 và Chương Bảo A cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Đặng Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, anh Chương Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về chia tài sản chung và công nợ chung: chị Đặng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: nguyên đơn chị Đặng Thị H là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Chương Văn H1.
  2. Về việc nuôi con: Vợ chồng có 03 con là cháu Chương Thanh D, sinh ngày 14/04/2005, cháu Chương Minh T1, sinh ngày 01/01/2010 và cháu Chương Bảo A, sinh ngày 02/8/2017. Cháu Chương Thanh D đã đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết. Khi ly hôn chị Đặng Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Chương Minh T1 và cháu C Bảo A cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh Chương Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung chị H, anh H1 có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  4. Về án phí: Chị Đặng Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - UBND xã Đồng Tâm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 34/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn H -H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger