TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 34/2024/HS-PT Ngày 22 - 9 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thủy.
Các Thẩm phán: Ông Triệu Ngọc Thức và ông Nguyễn Đức Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 22/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 42/2024/TLPT-HS ngày 04/9/2024 đối với bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: LÊ THỊ LUẬN, sinh ngày 20/12/1977 tại thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Đội 5, thôn Á, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T; Chồng: Nguyễn Hữu H1 và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/11/2012, Công an huyện T, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính 400.000 đồng về hành vi Kinh doanh hàng hóa không có giấy phép đăng ký kinh doanh.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/10/2023 đến ngày 04/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Họ và tên: LÊ THỊ NGOAN, sinh ngày 01/01/1975, tại thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Đội 5, thôn Á, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Lê Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; Chồng: Nguyễn Văn B1 và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 13/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo và Ngày 27/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo cùng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 10/8/2020, Công an xã L, huyện M, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/10/2023 đến ngày 04/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Họ và tên: LÊ VĂN NGUYÊN, sinh ngày 10/9/1971, tại thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Đội 5, thôn Á, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Lê Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; Vợ: Nguyễn Thị T1 và có 02 con.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/10/2023 đến ngày 04/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có 04 bị hại và 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 là những người không có việc làm ổn định nên các bị cáo đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền chi tiêu. Cụ thể như sau:
Chiều ngày 14/10/2023, L gặp N tại sân nhà văn hóa thôn Á, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Tại đây, L và N nói chuyện, bàn bạc với nhau cùng thống nhất phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản là mua bột thông cống giá rẻ trên mạng, sau đó sẽ mang đến gặp những người bán hàng ở chợ rồi đưa thông tin gian dối là muốn mua số lượng lớn bột thông cống để những người bán hàng tin. L và N rủ N1 cùng tham gia lừa đảo. Các bị cáo thống nhất là “L bỏ tiền ra mua bột thông cống trước, sau khi lừa bán được tiền, L sẽ lấy lại tiền bỏ ra mua bột thông cống, số tiền còn lại trừ các khoản chi phí đi còn lại sẽ chia đều cho L, N và N1. Nếu không lừa bán được thì L, N và N1 sẽ cùng nhau góp để trả tiền mua bột thông cống. L sẽ mua các sim điện thoại không đăng ký chính chủ để sử dụng lừa đảo. Sau đó, L và N sẽ tiếp cận người dân nhờ đặt mua bột thông cống với số lượng lớn, nếu người dân tin tưởng đồng ý mua giúp thì sẽ cho số điện thoại để liên lạc rồi bảo N1 chở bột thông cống đến giới thiệu và bán. Sau khi N1 lừa bán lấy được tiền thì L, N và N1 tắt máy điện thoại rồi bỏ đi”. Bàn bạc xong, N gặp N1 rủ đi lừa đảo với thủ đoạn như trên, N1 đồng ý.
Sáng ngày 15/10/2023, L sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 truy cập mạng xã hội Facebook rồi liên hệ cơ sở bán bột thông cống (không rõ thông tin tên cơ sở và địa chỉ cụ thể tại tỉnh Hưng Yên) rồi đặt mua 18 thùng bột thông cống với giá 7.200.000 đồng và đặt giao đến nhà N1. Sau đó, L mua 03 sim điện thoại di động để mang đi sử dụng lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, L nhận được số bột thông cống đặt mua trước đó qua một người đàn ông giao hàng (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ), L trả số tiền 7.200.000 đồng mua bột thông cống cho người này rồi đem bột thông cống đến nhà N1.
Khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 16/10/2023, L và N đến nhà N1 rồi cả ba thống nhất mang bột thông cống lên thành phố T để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau đó, N1 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, biển số 29Y1 - 572.31 chở 11 thùng bột thông cống và mang theo trong người 03 (ba) gói bột thông cống do N1 tự mua; N điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đỏ đen, biển số 29B1 - 122.75 chở 01 thùng bột thông cống và L điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 29Y1 - 414.88 chở 06 thùng bột thông cống cùng nhau đi đến huyện Y, tỉnh Yên Bái, thuê 01 phòng trọ, nhưng không xác định được tên và địa chỉ cụ thể và nghỉ tại đây (tại phòng trọ L đưa cho N 01 sim điện thoại số 0335.396.xxx và đưa cho N1 01 sim điện thoại số 0358.372.xxx để sử dụng vào việc lừa đảo).
Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 17/10/2023, N1 chở theo 06 thùng bột thông cống rồi đi cùng L và N đến chợ P1, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây, N gặp bà Nguyễn Thị D bán cá trong chợ. Ngoan nói dối bà D và giới thiệu bản thân tên là N, làm bên Quân đội cần mua cá và mua bột thông cống với số lượng lớn nhưng không biết mua ở đâu nên bảo bà D mua giúp, mỗi gói bột mua thành công N sẽ trả cho bà D số tiền là 1.000 đồng/gói. Do tin tưởng N nói là thật nên bà D đồng ý. N cho bà D số điện thoại “0335.396.xxx” để liên lạc khi mua được bột thông cống rồi rời đi. Lúc này, N1 đứng nấp cách đó 20 mét để quan sát, thấy N đi ra và chỉ tay về phía bà D thì N1 hiểu ý N đã lừa được nên N1 đến gặp bà D, giới thiệu bán bột thông cống, bà D liền gọi điện thoại cho N thì N lừa bà D mua giúp 03 thùng bột thông cống. Nghe lời N, bà D mua của N1 03 thùng bột thông cống (bên trong mỗi thùng có 100 gói) với số tiền 9.000.000 đồng.
Sau đó, bằng thủ đoạn như trên, N đến gặp bà Lý Việt H2 bán rau trong chợ rồi lừa bà H2 mua giúp bột thông cống thì bà H2 đồng ý và bà H2 mua của N1 3 thùng bột thông cống với số tiền 9.500.000 đồng, bà H2 gọi điện cho N nhưng không liên lạc được. Sau khi N1 chiếm đoạt tài sản của bà D, bà H2 đã gọi điện báo cho N, L biết rồi cả ba đi về phòng trọ tại huyện Y, tỉnh Yên Bái.
Khoảng 09 giờ 20 phút, ngày 18/10/2023, N1 tiếp tục chở 06 thùng bột thông cống rồi đi cùng L, N đến khu vực chợ T3, thành phố T để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bằng thủ đoạn như trên, L gặp bà Nguyễn Thị P bán quả dừa tại khu vực cổng chợ và hỏi mua hàng, nói chuyện làm quen rồi nhờ mua bột thông cống với số lượng lớn thì bà P đồng ý. L cho bà P số điện thoại “0376.992.xxx” để liên lạc rồi rời đi, thông báo cho N1 đến giới thiệu bán bột thông cống. Do tin tưởng, bà P mua của N1 02 thùng bột thông cống (bên trong mỗi thùng có 100 gói) với số tiền 5.800.000 đồng. Sau khi lừa bà P, L đến gặp bà Đỗ Thị T2 bán hoa quả trong chợ rồi bằng thủ đoạn như trên, L làm quen, nhờ bà T2 mua bột thông cống, bà T2 đồng ý, L cho bà T2 số điện thoại “0376.992.xxx” để liên lạc rồi rời đi, thông báo cho N1 đến gặp bà T2 giới thiệu, bán bột thông cống. Do tin tưởng, bà T2 mua 03 (ba) thùng bột thông cống (bên trong mỗi thùng có 100 gói) và 03 (ba) gói bột thông cống với số tiền 7.090.000 đồng. Sau khi mua bột thông cống, bà P, bà T2 gọi điện cho L thì không liên lạc được. Sau khi chiếm đoạt tiền của bà P, bà T2, L gọi điện báo cho N biết rồi cả ba đi về phòng trọ tại huyện Y, tỉnh Yên Bái.
Ngày 20/10/2023, bà Nguyễn Thị P, Đỗ Thị T2, Lý Việt H2, Nguyên Thị D1 tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của L, N, N1 đến Cơ quan điều tra Công an thành phố T.
Tại bản Kết luận giám định số: 1474, ngày 04/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T về giám định kỹ thuật số và điện tử đối với 04 (bốn) File video được trích xuất từ hệ thống camera an ninh tại cửa hàng của bà Nguyễn Thị P và bà Lý Việt H2, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong 04 (bốn) File video gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 9628, ngày 29 tháng 01 năm 2024 của V Bộ C1 về lĩnh vực kỹ thuật hình sự về hóa học đối với vật chứng trong vụ án (1787 gói bột thông cống) kết luận: Trong 1787 (một nghìn bẩy trăm tám mươi bẩy) gói bột thông cống ghi nhãn hiệu DW gửi giám định đều có thành phần hóa học giống thành phần hóa học của 04 (bốn) gói bột thông cống nhãn hiệu DW do Công ty Cổ phần C2 cung cấp làm mẫu so sánh.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 55, ngày 03/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Giá trị của 1803 gói bột thông cống là 19.833.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định. Tuyên bố bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 174; điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; 38; 54 và Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt:
- - Bị cáo Lê Thị L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/10/2023 đến ngày 04/02/2024; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù,.
- - Bị cáo Lê Thị N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/10/2023 đến ngày 04/02/2024; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
- - Bị cáo Lê Văn N1 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù, được khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giam từ ngày ngày 22/10/2023 đến ngày 04/02/2024); thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án phạt tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05 và ngày 09 tháng 8 năm 2024, bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo và đều rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm và tranh luận:
- - Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật, đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ trong hạn luật định, thủ tục giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm đúng trình tự tố tụng.
- - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, nhưng cấp sơ thẩm quy kết các bị cáo theo điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự (có tổ chức) là chưa phù hợp. Tuy nhiên, mức hình phạt đối với 03 bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng hành vi của các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, cả ba bị cáo đều xuất trình tình tiết mới đó là Đơn xin cải tạo tại địa phương và Phiếu thu tiền ủng hộ thiệt hại của cơn bão số 3 cho các tỉnh miền núi phía Bắc, các bị cáo cũng thực hiện nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho cả ba bị cáo nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang về phần áp dụng khoản của điều luật và hình phạt đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; 54; 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thời gian thử thách 03 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xử phạt bị cáo Lê Thị N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thời gian thử thách 03 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xử phạt bị cáo Lê Văn N1 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù cho hưởng án treo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thời gian thử thách 02 năm 10 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao các bị cáo cho UBND xã L, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
- Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, mục đích các bị cáo phân chia công việc để cùng nhau thực hành và thực hiện hành vi lừa đảo người khác để lấy tiền chi tiêu cá nhân, khi bị cáo N và bị cáo N1 phối hợp lừa bị hại Nguyễn Thị D và Lý Việt H2 thì bị cáo L không tham gia và khị bị cáo L và N1 phối hợp lừa bị hại Nguyễn Thị P và Đỗ Thị T2 thì bị cáo N không tham gia. Ngoài ra, lời khai của các bị cáo còn phù hợp lời khai các bị hại trong vụ án; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 14/10/2023 đến ngày 18/10/2023, Lê Thị L cùng Lê Thị N và Lê Văn N1 đều trú tại đội 5, thôn Á, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội đã bàn bạc, thống nhất, phân công để cùng nhau thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể: Ngày 17/10/2023, tại chợ P1, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, các bị cáo Lê Văn N1, Lê Thị N, Lê Thị L có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị D, trú tại xóm A, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang số tiền 9.000.000 đồng và của bà Lý Việt H2, trú tại tổ dân phố A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang số tiền 9.500.000 đồng. Ngày 18/10/2023, tại chợ T3, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, các bị cáo Lê Văn N1, Lê Thị N, Lê Thị L có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị P, trú tại tổ dân phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang số tiền 5.800.000 đồng và của bà Đỗ Thị T2, trú tại tổ dân phố A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang số tiền 7.090.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo đối với 04 bị hại là 31.390.000 đồng. Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự phạm tội có tổ chức đối với các bị cáo là chưa phù hợp. Tuy nhiên cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 17, Điều 58 và Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Lê Thị L và Lê Thị N, mức án 01 năm 05 tháng tù đối với bị cáo Lê Văn N1 là phù hợp quy định, đúng hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Vì vậy, Hội đồng xét xử cần căn cứ khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự để áp dụng đối với các bị cáo L, N và N1 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là phù hợp.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 thấy rằng, các bị cáo không kêu oan mà chỉ xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục xuất trình: Đơn xin cải tạo tại địa phương và Giấy xác nhận đã ủng hộ thiệt hại của cơn bão số 3 cho các tỉnh miền núi phía Bắc, các bị cáo cũng thực hiện nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho cả ba bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo không có tiền án, tiền sự, các lần phạm tội này đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục, răn đe các bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm, cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận các bị cáo đã thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về áp dụng khoản của điều luật và hình phạt đối với bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 175; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Lê Thị L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách 03 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 22/9/2024.
- - Xử phạt bị cáo Lê Thị N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách 03 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 22/9/2024.
- - Xử phạt bị cáo Lê Văn N1 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách 02 năm 10 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 22/9/2024.
Giao bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ghi nhận các bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm tại các biên lai thu tiền số 0000324, số 0000323 và số 0000334 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang.
Trả lại cho các bị cáo Lê Thị L, Lê Thị N và Lê Văn N1 mỗi bị cáo 200.000 đồng (nộp thừa) tại các biên lai thu tiền số 0000205, 0000206 và 0000207 cùng ngày 19/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/9/2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thủy |
Triệu Ngọc Thức - Nguyễn Đức Nam | Nguyễn Xuân Thủy |
Bản án số 34/2024/HS-PT ngày 22/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 34/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
