Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HS-ST

Ngày 21-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chức.

Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Vì Văn D, sinh ngày 18/4/1974, tại M, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Pi, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn N, sinh năm 1953 và con bà Lò Thị D1, sinh năm 1953; có vợ là Lò Thị T, sinh năm 1976, có 03 con, lớn sinh năm 1997 nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số: 20/2019/HSST ngày 23/4/2019 của TAND huyện Mường La đã xử phạt 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Văn T1 – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người làm chứng:

Lò Văn H, sinh năm 1982, địa chỉ: Bản L, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Cà Văn B, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản L, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Vì Văn D2 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 14/8/2023, tại nhà của Vì Văn D2, sinh ngày 18/4/1974 ở bản P, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Lò Văn H, sinh ngày 1982, địa chỉ: Bản L, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La.

Vật chứng thu giữ do Lò Văn H tự giác lấy từ trong túi quần đằng sau bên phải đang mặc giao nộp 01 gói ni lon màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng, khai là H1 để sử dụng vừa mua của Vì Văn D2;

Số tiền 100.000, đồng, mệnh giá một trăm nghìn đồng do Vì Văn D2 tự giác giao nộp khai là tiền vừa bán ma túy cho Lò Văn H mà có.

Ngày 14/8/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do Lò Văn H tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc giao nộp:

01 gói ni lon màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,02 gam lấy 0,02 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu DH;

Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 2011/KL-KTHS ngày 17/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:

Mẫu ký hiệu DH là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,02 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,02 gam Heroine.

Kết luận giám định số tiền: 100.000, đồng là tiền thật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vì Văn D2 không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra Vì Văn D2 khai nhận trước đó:

Khoảng đầu tháng 8/2023 Vì Văn D2 có bán cho Lò Văn H 01 gói Heroine với số tiền 100.000, đồng;

Khoảng 16 giờ ngày 12/8/2023 Vì Văn D2 có bán cho Cà Văn B, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản L, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La 01 gói Heroine với số tiền 100.000, đồng;

Khoảng 08 giờ ngày 14/8/2023 Vì Văn D2 có bán cho Cà Văn B, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản L, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La 01 gói Heroine với số tiền 100.000, đồng;

Đến hồi 08 giờ 30 phút ngày 14/8/2023 có bán cho Lò Văn H 01 gói Heroine với số tiền 100.000, đồng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Số tiền bán ma túy Vì Văn D2 đã chi tiêu hết. Số ma túy mua được Lò Văn H, Cà Văn B đã sử dụng hết.

Về nguồn gốc số ma túy Vì Văn D2 khai ngày 10/8/2023 tại khu vực bản C, xã P, huyện M gặp mua của một người đàn bà dân tộc thái không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với số tiền 400.000, đồng. Sau khi mua được mang về chia nhỏ thành nhiều gói nilon màu xanh, mục để sử dụng và bán kiếm lời. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Vì Văn D2.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Vì Văn D2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 120/CT-VKS-ML ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo: Vì Văn D2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vì Văn D2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Vì Văn D2 từ 05 năm đến 06 năm tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh (được niêm phong).

Đối với khoản tiền 100.000, đồng bị cáo mua bán ma túy mà có, cần buộc thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Buộc Vì Văn D2 truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 300.000, đồng mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.

Đối với Lò Văn H mua ma túy để sử dụng, khối lượng ma túy là 0,02 gam, xác định Lò Văn H không có tiền án, tiền sự về ma túy. Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Đối với Cà Văn B mua ma túy để sử dụng và đã sử dụng hết, nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vì Văn D2 phải chịu 200.000, đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Bị cáo Vì Văn D2 thừa nhận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 14/8/2023, tại nhà ở bản P, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,02 gam cho Lò Văn H để lấy 100.000, đồng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Trước đó Khoảng đầu tháng 8/2023 Vì Văn D2 có bán cho Lò Văn H 01 gói Heroine với số tiền 100.000, đồng; Khoảng 16 giờ ngày 12/8/2023 Vì Văn D2 có bán cho Cà Văn B, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản L, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La 01 gói Heroine với số tiền 100.000, đồng; Khoảng 08 giờ ngày 14/8/2023 Vì Văn D2 có bán cho Cà Văn B 01 gói Heroine với số tiền 100.000, đồng. Số tiền bán ma túy Vì Văn D2 đã chi tiêu hết. Số ma túy mua được Lò Văn H, Cà Văn B đã sử dụng hết

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người mua ma túy; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định ma túy và tiền.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Vì Văn D2 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b “phạm tội 02 lần trở lên” khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo Vì Văn D2 phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.

Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo Vì Văn D2 có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy, đã bị kết án và được xóa án tích, coi như chưa tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Vì Văn D2 khai ra hành vi phạm tội trước đó là tự thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Vì Văn D2 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần căn cứ khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[3]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì gửi giám định tiền; 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh (được niêm phong).

Đối với khoản tiền 100.000, đồng bị cáo mua bán ma túy mà có, cần buộc thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết là 300.000, đồng, cần buộc Vì Văn D2 truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước.

Về nguồn gốc ma túy Vì Văn D2 khai mua của một người đàn bà không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Vì Văn D2, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Đối với Lò Văn H mua ma túy để sử dụng, khối lượng ma túy là 0,02 gam, xác định Lò Văn H không có tiền án, tiền sự về ma túy. Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính là thỏa đáng.

Đối với Cà Văn B mua ma túy để sử dụng và đã sử dụng hết, nên không có căn cứ để xử lý.

Do bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b “phạm tội 02 lần trở lên” khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Vì Văn D2 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Vì Văn D2 06 (sáu) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 14/8/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 14/8/2023); 01 vỏ phong bì gửi giám định đã bóc mở niêm phong (được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 10/11/2023).

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 100.000, đồng (một trăm nghìn đồng) do bị cáo mua bán ma túy mà có (được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 10/11/2023).

Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Buộc Vì Văn D2 truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết là 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vì Văn D2 phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/12/2023.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Công an huyện Mường La;
  • - THAHS;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Mường La;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

(đã ký)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 34/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vì Văn D mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger