|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 21 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Phúc và ông Đàm Quang Băng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn L, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 25/9/1993, tại thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng;
Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Hoàng Văn S, sinh năm 1964 và bà Nông Thị K, sinh năm 1967; Vợ: Hà Thị L1, sinh năm 1995; Con: Không có. Tiền án, tiền sự: Không có;
Đặc điểm nhân thân:
- Ngày 03/10/2012 bị Ủy ban nhân dân tỉnh C Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 1367/QĐ-UBND.
- Ngày 15/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 15/2017/HSST.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nông Thị M, sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 ngày 04/3/2024, Tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế T chủ trì phối hợp với Công an huyện Q, Công an thị trấn T và Chi cục Hải quan cửa khẩu T1 đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đường đôi thuộc Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng thì phát hiện Hoàng Văn L, sinh năm 1993 (trú tại Tổ dân phố C, thị trấn H, Q, Cao Bằng) đang điều khiển xe mô tô BKS 48H7-0510 màu đỏ đen, nhãn hiệu Honda, loại Wave có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác đã ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi áo bên trái L đang mặc có 01 ống thủy tinh một đầu có hình phễu tròn; 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng nghi là dụng cụ để sử dụng ma túy. Tiếp tục kiểm tra phát hiện bên trong chiếc tất mà L đang mang trên chân phải có 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000đ gấp lại, mở ra bên trong có 01 túi nilon trong suốt một đầu có khóa vuốt bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma túy tổng hợp dạng đá. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000₫ gấp lại bên trong có 01 túi nilon trong suốt có khóa vuốt bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 ống thủy tinh một đầu có hình phễu; 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nắp lưng màu xanh, nhãn hiệu OPPO, máy cũ đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đỏ đen, BKS 48H7-0510, xe cũ đã qua sử dụng.
Cùng ngày Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, công trình liên quan đối với Hoàng Văn L tại Tổ dân phố C, thị trấn H vào hồi 21 giờ 10 phút. Kết quả: Không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Ngày 05/3/2024 tại Phòng K1 Công an tỉnh C. Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế T đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành cân xác định khối lượng vật chứng khi bắt quả tang Hoàng Văn L có khối lượng: 0,6363gam và gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 191/KL-KTHS ngày 11/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 15 giờ ngày 04/3/2024 L một mình điều khiển xe mô tô BKS 48H7-0510 từ nhà ở thị trấn H, Q ra khu vực N, thành phố C để tìm mua ma túy đá về sử dụng. Khoảng 17 giờ, L đến nơi thì thấy một người đàn ông không quen biết nhìn có biểu hiện nghiện ma túy thì L đến gần và hỏi “có chỗ nào mua ma túy đá không”, người đàn ông đó trả lời “lấy bao
nhiêu”. L đáp “lấy em sáu trăm”. Sau đó L đưa cho người đàn ông đó 03 tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 200.000đ. Người đàn ông cầm lấy tiền và bảo L đợi rồi điều khiển xe mô tô (L không rõ biển kiểm soát) đi đâu không rõ. Khoảng 30 phút sau thì người đàn ông đó quay lại và đưa cho L 01 gói nilon trong suốt một đầu có khoá vuốt màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng là ma túy dạng đá. L cầm lấy gói ma tuý rồi gói lại vào trong tờ tiền mệnh giá 2000đ và nhét vào chiếc tất bên phải đang đi trên người rồi điều khiển xe mô tô quay về. Khi L đi đến trước cửa nhà nghỉ Y thuộc Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Bản cáo trạng số 35/CT-VKSQH ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn L thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của mình đồng thời khai nhận: 01 ống thủy tinh một đầu có phễu tròn và 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng bị cáo để sử dụng ma túy. Đối với 01 điện thoại di động mà hình cảm ứng, nắp lưng màu xanh, nhãn hiệu OPPO là của bị cáo mượn của chị Nông Thị M (là bạn gái của L); bị cáo mượn để sử dụng liên lạc cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE, màu sơn đỏ đen biển kiểm soát 48H7-0510 là xe của bố bị cáo, ngày 04/3/2024 bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy bố bị cáo không biết.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và trình bày quan điểm về nguyên nhân phạm tội và hướng giải quyết vụ án như sau: Mặc dù nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị xã hội lên án, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ ngày 04/3/2024 của bị cáo Hoàng Văn L còn lại sau khi đã trích mẫu đi giám định, 01 ống thủy tinh một đầu có phễu tròn và 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bị cáo sử dụng để
gói ma túy. Trả cho chị Nông Thị M, sinh năm 1993, trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, nắp lưng màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhất trí với quan điểm xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Hoàng Văn L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét chỗ ở và vật chứng thu giữ.
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh: Ngày 04/3/2024, Hoàng Văn L một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48H7-0510 từ nhà ở của mình tại Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng đến khu vực N thuộc phường S, thành phố C gặp và mua 0,6363 gam ma túy, loại: Methamphetamine với một người đàn ông không quen biết với giá 600.000 đồng, mục đích đem sử dụng cho bản thân. Mua được ma tuý, L điều khiển xe quay về nhà, khi đi đến khu vực Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q thì bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Hoàng Văn L đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà N về ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội để có ma túy sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép 0,6363 gam Heroine của bị cáo L đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Heroine, C, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết tội bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn L có nhân thân xấu, mặc dù đã từng bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Các nhận định khác: Nguồn gốc số ma túy, bị cáo Hoàng Văn L khai mua với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ tại khu vực N, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, danh tính của người bán ma tuý cho L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q không có căn cứ mở rộng vụ án.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập
ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của Hoàng Văn L”, tại biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục 03 đến 08) thể hiện khi bắt quả tang có thu giữ 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000đ gấp lại bên trong có chứa 01 túi ni lon trong suốt có khóa vuốt bên trong có chứa ma túy và được cho vào phong bì niêm phong. Do đó, đối với giấy gói và vỏ niêm phong là vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, đối với tờ tiền 2.000đ bị cáo gấp lại để gói ma túy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn L có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 04/3/2024” và 01 ống thủy tinh một đầu có phễu tròn, 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng, bị cáo dùng để sử dụng ma túy. Số vật chứng này là loại nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, nắp lưng màu xanh bị cáo mượn của chị Nông Thị M (bạn gái của bị cáo), bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc mua ma túy nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
- Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu WAVE, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 48H7-0510 quá trình điều tra xác định được ông Hoàng Văn S (bố đẻ bị cáo), sinh năm 1964, trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng là chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 04/3/2024 bị cáo sử dụng xe máy để đi mua ma túy ông S không biết, ngày 09/5/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại chiếc xe trên cho ông Hoàng Văn S theo biên bản trả lại tài sản ngày 13/5/2024. Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét vấn đề này.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 01 năm 08 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/3/2024;
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của Hoàng Văn L”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
- 01 (một) ống thủy tinh một đầu có phễu tròn;
- 02 (hai) đoạn ống hút nhựa màu vàng.
- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn L có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 04/3/2024".
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đ (Chứa trong 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của Hoàng Văn L")
- Trả 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp lưng màu xanh, nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1 862052058942515, số IMEI 2 862052058942507, máy cũ đã qua sử dụng cho chị Nông Thị M, sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/6/2024.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Hoàng Văn L có quyền kháng cáo bản án, chị Nông Thị M có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thúy Quỳnh |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 19 giờ 30 ngày 04/3/2024, Tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế T chủ trì phối hợp với Công an huyện Q, Công an thị trấn T và Chi cục Hải quan cửa khẩu T1 đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đường đôi thuộc Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng thì phát hiện Hoàng Văn L, sinh năm 1993 (trú tại Tổ dân phố C, thị trấn H, Q, Cao Bằng) đang điều khiển xe mô tô BKS 48H7-0510 màu đỏ đen, nhãn hiệu Honda, loại Wave có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác đã ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi áo bên trái L đang mặc có 01 ống thủy tinh một đầu có hình phễu tròn; 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng nghi là dụng cụ để sử dụng ma túy.
