Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - THANH HÓA

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày 17-11-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn.
  • Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Sơn; 2. Ông Lê Xuân Lâm.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Minh - Thư ký Toà án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 17/11/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 3 năm 2024. Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/HSST-QĐ ngày 14/11/2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Đức T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26 tháng 9 năm 2007; Số CCCD: [...]. Nơi cư trú: thôn A, xã X, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12. Họ tên bố: Lê Văn X; Sinh năm: 1966; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên mẹ: Lê Thị T1; Sinh năm:1975; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19/12/2023 đến nay có mặt tại phiên toà.

2. Hà Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 28 tháng 6 năm 2007; Nơi cư trú: thôn M, xã X, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12. Họ tên bố: Hà Văn T2; Sinh năm: 1976; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên mẹ: Hà Thị N; Sinh năm:1982; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: có 1 lần phạm tội đã bị xét xử đối với hành vi phạm tội sau hành vi xét xử lần này tại Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TAND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đã xử phạt Hà Văn H 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2024, về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 BLHS. Hiện đang chấp hành tại Trại giam S, Cục C1, Bộ C2.

Bị cáo có đơn đề nghị xử vắng mặt tại phiên tòa.

3. Lê Văn T3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 06 tháng 7 năm 2004. Nơi cư trú: thôn S, xã X, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12. Họ tên cha: Lê Văn Q; Sinh năm: 1981; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên mẹ: Hà Thị T4; Sinh năm: 1984; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

4. Lê Văn Q1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08 tháng 7 năm 2006. Nơi cư trú: thôn X, xã X, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12. Họ tên cha: Không có bố. Họ tên mẹ: Lê Thị L; Sinh năm: 1984; nghề nghiệp: Lao động tự do. Gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19/12/2023. Đến ngày 18/09/2025 thì bị tạm giam tại phân Trại tạm giam Thường Xuân đến nay. Có mặt tại phiên toà.

  • * Người bào chữa cho các bị cáo Hà Văn H, Lê Đức T và Lê Văn T3:

    Ông Hoàng Đức H1 - Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh T9 thuộc Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Q1 :

    Bà Nguyễn Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh T9 thuộc Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh T. Vắng mặt tại phiên toà.

  • * Người làm chứng:
    1. Anh Hoàng Văn T5 - sinh năm: 2008; nơi cư trú: Thôn T, xã X, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên toà.
    2. Anh Lương Văn Ô- sinh năm: 2006; nơi cư trú: Thôn T, xã X, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên toà.
    3. Anh Nguyễn Văn H3- sinh năm: 1995; nơi cư trú: xã N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên toà.
    4. Nguyễn Danh H4 - sinh năm: 1994; nơi cư trú: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên toà.
    5. Nguyễn Văn C - sinh năm: 1992; nơi cư trú: xã N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 20/10/2023 Lê Đức T, Lê văn Q1, Lê Văn T3, Hà Văn H, Lương Văn Ổ và Hoàng Văn T5. Cùng đến nhà Lê Viết Đ ở thôn T, xã B, huyện N (nay là thôn T, xã X, tỉnh Thanh Hóa) để ăn cơm uống rượu cùng với vài người bạn của Đ, nhân dịp kỷ niệm ngày phụ nữ Việt Nam 20 tháng 10. Sau khi ăn uống xong, đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T điều khiển xe Exiter biển kiểm soát 36K3-054.82 chở theo T5 ngồi giữa, H ngồi sau cùng; T3 điều khiển xe mô tô Wave biển kiểm soát 36K3-252.25 chở theo Ô ngồi giữa Q1 ngồi sau cùng; hai xe đi từ xã B (Nay là xã X) đến địa phận xã N, huyện N thì dừng lại. T, Q1, H, T5, xuống bẻ được 06 đoạn ống tuýp sắt (hàn làm cột treo cờ) ở dọc đường, chuẩn bị làm hung khí để đánh nhau.

Sau khi chuẩn bị được hung khí T và T3 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở cả nhóm từ xã N, huyện N về thị trấn Y, huyện N. Trên dọc đường đi T chạy trước bấm còi, rồ ga, hò hét, H ngồi sau cầm hai gậy tuýp sắt đập vào nhau và quyẹt xuống đường để tạo ra tiếng ồn, tạo nên vệt lửa trêu chọc người đi đường. T3 điều khiển xe đi sau cũng phóng nhanh, bấm còi, rồ ga chạy theo xe của T, gây nên tiếng ồn ào trên dọc đường đi. Đến thị trấn Y, huyện N, đi qua các quán ăn, nhìn thấy có người đang ăn đêm, thì T và T3 đều bấm còi, rồ ga để trêu chọc, thách thức những người trong các quán ăn đêm. Khi đi qua khu vực ngã ba đèn xanh, đèn đỏ gần cây xăng thuộc khu phố B, thị trấn Y, huyện N, gặp 01 xe mô tô chở 03 người đàn ông đang đi theo hướng ngược chiều thì nhóm của T tạt xe ngang sang đường để chặn xe, rồi nói: “Có phải các anh vừa đánh bọn em không, nhóm đi xe ngược chiều trả lời: “Không phải, bọn anh vừa đi uống rượu về” T nói: “Không phải thì thôi em xin lỗi, em tưởng mấy thằng lúc nãy đánh em”. Sau đó 02 xe mô tô của T6 và T3 điều khiển đi vòng ra đường H theo hướng trở về xã B, huyện N.

Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 21/10/2023 trên đường H, thuộc khu phố X, thị trấn Y thì nhóm của T gặp xe mô tô do anh Nguyễn Danh H4 điều khiển chở theo anh Nguyễn Văn H3 và anh Lê Đình T7 đang đi ngược chiều; H3 ngồi sau xe của T chửi: “Đ.mẹ chúng mày đánh nhau không”, đồng thời T quay xe lại đuổi theo, khi hai xe đi ngang nhau thì T lấy tuýp sắt do T5 đang cầm; một tay bên trái điều khiển xe, tay phải cầm tuýp sắt vụt từ trên xuống trúng vào phần đầu anh H4 trượt xuống phần gương xe mô tô bên trái của anh H4 đang điều khiển. T5 và H3 cũng sử dụng gậy tuýp sắt đánh những người trên xe của anh H4. Bị đánh bất ngờ nên anh H4 tăng ga bỏ chạy, T và T3 tiếp tục điều khiển xe mô tô đuổi theo; đuổi tới nơi, nhìn thấy anh Nguyễn Văn H3 đã xuống xe, cả bọn dừng lại xuống xe, T, T5, H3 mỗi người sử dụng 01 gậy tuýp sắt lao vào đánh anh Nguyễn Văn H3. Trong lúc đánh nhau anh Nguyễn Văn H3 túm được gậy tuýp sắt của T, tấn công lại và ôm ghì cổ T đè xuống, bên ngoài H3 và T5 xông vào sử dụng tuýp sắt đánh vào lưng và người anh Nguyễn Văn H3. Cùng lúc đó xe mô tô do T3 điều khiển cũng dừng lại thì Q1 nhảy xuống xông vào sử dụng tuýp sắt tham gia đánh anh H3. Bị đánh anh H3 buông T ra, khi T chuẩn bị lại để lấy xe bỏ chạy thì anh Nguyễn Văn H3 đuổi theo kịp ôm giữ lại; anh Nguyễn Văn C là anh trai anh H3 thấy vậy đi tới, dùng chân đá 01 cái vào vùng mặt Lê Đức T.

  • - Kết luận giám định số 1950/KLTTCT-PYTH ngày 24/11/2023 của Trung tâm pháp y sở Y xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đức T tại thời điểm giám định là 10%.
  • - Kết luận giám định số 1951/KLTTCT-PYTH ngày 22/11/2023 của Trung tâm pháp y sở Y xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H3 tại thời điểm giám định là 7%.
  • - Kết luận giám định số 1952/KLTTCT-PYTH ngày 20/11/2023 của Trung tâm pháp y sở Y xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Danh H4 tại thời điểm giám định là 01%.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng

Tạm giữ của Lê Đức T 01 xe mô tô nhãn hiệu Exiter, biển kiểm soát 36K3-054.82, thuộc quyền sở hữu của chị Lê Thị T1 là mẹ đẻ, chị T1 để chìa khóa ở nhà, T tự ý lấy xe sử dụng, chị T1 hoàn toàn không biết. Tạm giữ của Lê Văn T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 36K3-252.25, thuộc quyền sở hữu của vợ chồng chị Hà Thị T4 là mẹ đẻ, chị T4 để xe và chìa khóa ở nhà T3 tự ý lấy xe đi chị T4 hoàn toàn không biết. Quá trình điều tra xác định chị T1 và chị T4 hoàn toàn không biết các bị cáo sử dụng xe của mình làm phương tiện phạm tội và xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu tại quyết định xử lý tài sản, đồ vật số 40/QĐ-ĐCSKT-MT, 41/QĐ-ĐCSKT-MT cùng ngày 20/12/2023.

Cơ quan điều tra thu giữ 06 đoạn ống tuýp sắt, mỗi đoạn dài 67 cm, đường kính 02 cm, là hung khí các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội; được chuyển đến kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Hành vi của các bị cáo gây thương tích đối với anh Nguyễn Văn H3 là 7%, anh Nguyễn Danh H4 là 1% trong quá trình điều tra các bị cáo đã tác động người thân tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho anh H3 số tiền 12.000.000 đồng, anh H4 số tiền là 6.000.000 đồng. Anh H3 và anh H4 có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự; và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Sau khi Lê Đức T, gây thương tích cho anh H4 và H3, thì bị giữ lại, do bức xúc trước hành vi trái pháp luật của các bị cáo nên anh Nguyễn Văn C dùng chân đá vào vùng mặt Lê Đức T, Ngoài ra T khai bị anh Nguyễn Văn H3 dùng gậy đánh vào tay. Tỷ lệ thương tích là 10%. Ngày 02/12/2023, Lê Đức T có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự; và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo Q1 không chấp hành việc triệu tập nhiều lần gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Kết quả xác minh thể hiện bị cáo không có mặt tại địa phương, bỏ đi không thông báo chính quyền địa phương, do đó Tòa án đã ra quyết định bắt tạm giam để đảm bảo xét xử. Bị cáo H3 trong quá trình chuẩn bị xét xử lại tiếp tục phạm tội và bị TAND huyện Hoằng Hóa xử 21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Bản cáo trạng số: 09/CT-VKSNX ngày 26/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân đã truy tố các bị cáo Lê Đức T; Hà Văn H; Lê Văn T3 và Lê Văn Q1 về tội: Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo. Kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Lê Đức T và đồng phạm phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Điểm b, khoản 2 Điều 318 BLHS.

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đề nghị phạt Lê Đức T từ 18 - 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 – 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Bộ luật Hình sự, Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đề nghị phạt Hà Văn H từ 18 - 21 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 21 tháng tù giam của Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17. Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị phạt Lê Văn T3 từ 24 - 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 - 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự: Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đề nghị phạt Hà Văn Q2 từ 15-18 tháng tù.
  • Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016 của QH khóa 14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, sau khi kiểm tra, đánh giá, định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã xử lý, giao trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

- Về dân sự: Không.

Trợ giúp viên pháp lý Hoàng Đức H1 bào chữa cho bị cáo Hà Văn H, Lê Văn T3 và Lê Đức T nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Điểm b, khoản 2 Điều 318 BLHS.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 91 của Bộ luật hình sự 2015, cho bị cáo Hà Văn H và Lê Đức T được hưởng mức án thấp nhất quy định tại khoản 2 Điều 318 BLHS;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo Lê Văn T3 được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm thành người công dân tốt.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí HSST cho các bị cáo Lê Văn T3, Hà Văn H và Lê Đức T.

Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị H2 trong luận cứ bào chữa cho bị cáo Lê Văn Q1, trình bày: nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Điểm b, khoản 2 Điều 318 BLHS.

Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội thành khẩn khai báo ăn năn hối cải”, “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ Luật hình sự đề nghị HĐXX xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất có thể theo đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí HSST cho bị cáo Lê Văn Q1.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung gì.

Quan điểm đối đáp của đại diện viện kiểm sát: Giữ nguyên như đã trình bày.

Lời nói sau cùng, tất cả các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và những người làm chứng, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Đêm 20 rạng sáng ngày 21/10/2023 Lê Đức T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36K3-054.82 chở theo Hà Văn H và Lê Văn T8; Lê Văn T3 điều khiển xe mô tô 36K3-252.25 chở theo Lê Văn Q1 và Lương Văn Ô; đi từ xã B (Nay là xã X, tỉnh Thanh Hóa) đến địa phận xã N, tỉnh Nghệ An rồi quay trở về thị trấn Y, huyện N (Nay là xã N); trên đường đi T và T3 rồ ga, bấm còi H sử dụng 02 đoạn tuýp sắt đập và nhau và quẹt xuống đường tạo nên tiếng ồn, để trêu chọc người đi đường mà chúng gặp. Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 21/10/2023 trên đường H thuộc khu phố X, thị trấn Y các bị can gặp 01 xe mô tô đi ngược chiều nên đã quay xe lại đuổi theo, sử dụng tuýp sắt gây thương tích cho anh Nguyễn Văn H3 và Nguyễn Danh H4, quá trình chửi bới đuổi đánh nhau đã gây ồn ào giữa đêm khuya. Hành vi của các bị cáo xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng; gây ảnh hướng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội của địa phương. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2, Điều 318 BLHS như Cáo trạng của VKSND huyện Như Xuân đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả và nhân thân: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi đó đã trực tiếp xâm hại tới trật tự chung, an toàn xã hội, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống cộng đồng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng. Do vậy, cần thiết phải có hình phạt nghiêm minh đối với các bị cáo để trừng trị và giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

[4] Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm không có tổ chức, không có sự phân công vai trò cụ thể, tính chất đồng phạm giản đơn; không có sự câu kết chặt chẽ, phân công vai trò giữa những người đồng phạm; tuy nhiên cần đánh giá vai trò của bị cáo Lê Đức T cao hơn so với các bị cáo khác, kể từ khi chuẩn bị hung khí, điều khiển xe mô tô chạy trước, trên đường bấm còi rồ ga; bị cáo Lê Văn T3 với vai trò thứ hai điều khiển xe mô tô chạy theo sau cũng bấm còi rồ ga, hai xe mô tô tạo nên tiếng ồn ào gây ảnh hưởng sấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội. Khi gặp xe mô tô của anh H4 điều khiển chở theo anh H3 và anh T7, thì bị cáo T cũng là người gây sự và sử dụng hùng khí đánh vào vùng đầu của anh H4 trước tiên, và đây cũng là nguyên nhân xảy ra đánh nhau ồn ào, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội tại khu phố X, thị trấn Y, huyện N. Trong quá trình điều tra vụ án bị cáo thừa nhận hành vi của mình, tỏ ra ăn năn hối cải.

[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với các bị cáo Lê Đức T, Hà Văn H, Lê Văn T3 và Lê Văn Q1: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong giai đoạn điều tra, các bị cáo T, H, T3 và Q1 đều thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ hợp tác; tại phiên tòa, các bị cáo T, T3 và Q1 tiếp tục khai báo phù hợp, ăn năn hối cải (bị cáo H vắng mặt). Các bị cáo cũng đã cùng gia đình chủ động thỏa thuận, bồi thường đầy đủ thiệt hại cho những người bị thương tích. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo Lê Đức T, Lê Văn Q1 và Hà Văn H đều là người dưới 18 tuổi tại thời điểm phạm tội nên được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và các quy định tại Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

Đối với đối tượng Lê Văn T8 (sinh ngày 01/02/2008) tính đến ngày thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính theo Quyết định số: 48/QĐ-XPHC ngày 19/12/2023 bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp, HĐXX không xem xét.

Hành vi Cố ý gây thương tích của các bị cáo T, Q1, H thuộc trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại, tuy nhiên bị hại không yêu cầu khởi tố, nên Cơ quan điều tra đã xử lý vi phạm hành chính theo các quyết định số: 46/QĐ-XPHC, 47/QĐ-XPHC ngày 19/12/2023 đối với Lê Đức T, Lê Văn Q1, số 20/QĐ-XPHC ngày 05/3/2023 đối với Hà Văn H, số tiền là 3.250.000 đồng là phù hợp.

Đối với đối tượng Lê Văn Ổ1 cùng đi trên xe mô tô do Lê Văn T3 điều khiển, tuy nhiên kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định trên đường đi Ôn không tham gia hò hét, cũng không tham gia đánh nhau nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Đức T, Hà Văn H và Lê Văn Q1 là người bị kết án, thuộc các trường hợp được miễn án phí quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên cần miễn án phí cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với bị cáo Lê Văn T3 là người thành niên phạm tội nên bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định;

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Bộ luật Hình sự, Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
    • - Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
    • - Xử phạt: bị cáo Hà Văn H 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 21 tháng tù tại Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TAND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 39 (Ba chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/10/2024.
  2. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự: Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
    • - Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Q1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
    • - Xử phạt: bị cáo Lê Văn Q1 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam: 18/9/2025
  3. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17. Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
    • - Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
    • - Xử phạt: bị cáo Lê Văn T3 25 (Hai mươi lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 50 (Năm mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  4. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
    • - Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
    • - Xử phạt: bị cáo Lê Đức T 19 (Mười chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lê Văn T3 và Lê Đức T cho Ủy ban nhân dân xã X, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về phần xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy đối với 06 đoạn ống tuýp sắt, mỗi đoạn dài 67 cm, đường kính 02 cm, là hung khi các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội; Tất cả các vật chứng trên hiện đang lưu trữ tại kho tang vật của Cơ quan thi hành án dân sự huyện N theo biên bản giao nhận số 24/2024/TSTV ngày 15 tháng 5 năm 2024 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào: Điều 136; Điều 331 và 333 BLTTHS năm 2015; Điều 3; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lê Đức T; Hà Văn H và Lê Văn Q1. Buộc bị cáo Lê Văn T3 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết công khai bản án tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND khu vực 10 – Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Trại tạm giam khu vực Thường Xuân;
  • - Cơ quan THA DS Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Công Tuấn

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Sơn Lê Xuân Lâm Ngô Công Tuấn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA về hình sự về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Lê Đức Thuận và các đồng phạm gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger