Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/ HS-ST

Ngày: 12/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu

Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Ngần - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/TLST- HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Văn T (tên gọi khác: Không) sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm D, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn L và bà Vũ Thị M; Có vợ: Lưu Thị Lệ T1 và 01 con ; Tiền án; Tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.( Có mặt)

Bị hại: Bà Đinh Thị L1, sinh năm 1963 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình. ( Có mặt)

Người làm chứng:

  • - Cháu Bùi Quang H, sinh năm 2011 ( Vắng mặt)
  • Người đại diện theo pháp luật của cháu H: Anh Bùi Văn H1, sinh năm 1986.
  • - Anh Bùi Văn H1, sinh năm 1986. ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:

1

Trương Văn T là người có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định của pháp luật. Khoảng 12 giờ ngày 25/12/2024, Trương Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave@ màu xanh biển kiểm soát 35N1-118.49 đi trên đường D hướng từ xã X đến xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Khi đi đến km 2+800 đường tỉnh lộ 479 thuộc địa phận thôn A, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình đây là đoạn đường thẳng được trải nhựa áp phan bằng phẳng rộng 11m; trên đường có vạch sơn nét đứt màu vàng để phân chia các làn đường ngược chiều và vạch sơn nét đứt, màu trắng để phân chia làn xe chạy cùng chiều thành 02 làn. Lúc này phía trước cùng chiều đi với xe mô tô của Trương Văn T có bà Đinh Thị L1, sinh năm 1963 trú tại thôn A, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình đang đi bộ tại làn đường có vạch sơn nét đứt, màu trắng giáp với lề đường bên phải. Do Trương Văn T điều khiển xe mô tô không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát người tham gia giao thông đi cùng chiều dẫn đến tay lái bên phải xe mô tô biển kiểm soát 35N1-118.49 do T điều khiển va vào phía sau bà Đinh Thị L1 làm xe mô tô và Trương Văn T bị ngã đổ nghiêng bên trái trên mặt đường còn bà L1 bị ngã ngửa xuống mặt đường.

Hậu quả: Bà Đinh Thị L1 bị “Chấn thương sọ não” được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N đến ngày 26/12/2024 đã tử vong. Trương Văn T bị thương xây xước nhẹ, tự điều trị tại nhà.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thu của Trương Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh, biểm kiểm soát 35N1-118.49 kèm theo đăng ký xe mô tô và giấy phép lái xe mang tên Trương Văn T. Đồng thời thu giữ 01 đoạn video từ camera an ninh của gia đình anh Bùi Văn H1, sinh năm 1986 trú tại thôn A, xã G, huyện N ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông. Cơ quan điều tra đã trích xuất dữ liệu và sao lưu vào 01 đĩa DVD-R để gửi Phòng K Công an tỉnh N giám định về hình ảnh.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện của vụ tai nạn cho thấy:

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là tại km2 + 800 đường ĐT479 thuộc địa phận thôn A, xã G, huyện N. Mặt đường trải nhựa bằng phẳng rộng 11m. Trên mặt đường có kẻ vạch sơn nét đứt màu vàng để phân chia các làn đường ngược chiều và vạch sơn nét đứt màu trắng để phân chia các làn xe chạy cùng chiều. Theo hướng xã Xích Thổ đi xã Gia Tường

Điểm mốc là cột điện số 2.2/1.4 TBA Gia Lâm 1 nằm tại phần đất lưu không bên phải đường ĐT479 hướng xã X đi xã G, cách mép đường 1,6m.

Mép đường chuẩn là mép đường bên phải đường ĐT479 hướng xã X đi xã G.

Vị trí xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave@ màu xanh biển kiểm soát: 35N1- 118.49 nằm đổ nghiêng bên trái trên mặt đường. Đầu xe quay vào hướng mép đường bên phải, đuôi xe quay vào hướng mép đường bên trái.

2

G.

Vết cà xước không liên tục trên mặt đường KT(3,2 x 0,5)m có chiều xã X đi xã

Vết dị vật màu nâu đỏ đã khô nằm tại mép đường

Vết cà xước trên mặt đường KT (0,35 x 0,04)m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh, biểm kiểm soát 35N1-118.49 có một gương chiếu hậu bên trái. Mặt gương, gáo gương bị bong bật vỡ rời khỏi xe. Cần gương bị đẩy từ trái qua phải lệch chuẩn so với vị trí ban đầu 180°. Đầu tay lái bên trái có vết sạt xước kim loại, bong tróc sơn KT (2 x 0,5)cm. Chắn bùn phía trước có vết sạt xước nhựa KT (7 x 5)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 55cm.Mặt ngoài cánh yếm bên trái phía trước có vết sạt xước nhựa KT (9 x 5)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 62cm. Trên bề mặt lốp trước phía bên trái có vết chùi mài cao su không liên tục KT (20 x 1,5)cm, điểm thấp nhất cách chân van theo chiều kim đồng hồ 25cm. Giá để chân trước bên trái có vết chùi mài, rách cao su, trên bề mặt có bám dính dị vật màu trắng KT (4 x 3)cm. Giá đèo hàng phía sau bên trái có vết tỳ mài cao su, bề mặt bám dính dị vật màu trắng KT (9 x 3)cm. Phương tiện ghi nhận đặc điểm cũ bao gồm: Bề mặt ngoài phương tiện bám dính dầu mỡ, bụi đất lâu ngày. Biển số xe có vết ố màu đen trên bề mặt kính bảo vệ. Tại mặt đèn xi nhan phía trước bên trái có vết sạt xước nhựa KT(6 x 4)cm. Hệ thống điều khiển, hệ thống phanh xe, đèn, còi hoạt động bình thường.

* Kết quả khám nghiệm tử thi bà Đinh Thị L1.

- Khám ngoài: Vùng đầu có tóc dài che phủ, tóc thấm dính máu đã khô. Hai lỗ tai khô, mắt nhắm, nhãn cầu hai bên không tổn thương. Vùng thái dương đỉnh trái xưng nề KT (10 x8)cm, trên diện có vết xây xát, dập rách da, tụ máu KT (5x4)cm, đáy vết dập rách còn chảy máu. Miệng có dịch đục chảy ra khi thay đổi tư thế. Hai lỗ tai, hai lỗ mũi không có máu chảy ra. Miệng ngậm, lưỡi trong cung răng, các răng và xương hàm không tổn thương, không dập gãy. Cổ, gáy không có dấu vết tổn thương, cổ vững. Ngực vững, kiểm tra hệ thống xương lồng ngực không có dấu hiệu dập gãy. Vùng ngực trên bên phải cách trên núm vú 5cm có vết bần tím KT (4 x 3)cm. Ngực bên trái cách trên núm vú 4cm có vết bầm tím KT (3,5 x3)cm. Da vùng bụng, lưng, mông không có dấu vết tổn thương. Khung chậu vững, bộ phận sinh dục ngoài không tổn thương, hậu môn không có phân. Tay phải không có dấu vết tổn thương; Tay trái: mặt trước 1/3 dưới cẳng tay có vết xây xát da, tụ máu KT (3 x1)cm. Chân phải không có dấu vết tổn thương. Chân trái: mặt trước 1/3 giữa cẳng chân có vết bầm tím KT(4 x 3,5)cm mặt sau 1/3 dưới cẳng chân có vết xây xát, bầm tím KT (5x3)cm.

- Mổ tử thi: Giải phẫu vùng đầu: Tụ máu diện rộng, tổ chức gân cơ vững, thái dương đỉnh trái tương ứng vị trí tổn thương bên ngoài KT (12 x9)cm. Tụ máu cơ thái dương trái, tụ máu màng xương thái dương đỉnh trái. Kiểm tra thấy có vỡ xương hộp sọ vùng thái dương trái hướng đường vỡ lan chếch ra trước xuống nền sọ đo được KT(5x1)cm, quan diện vỡ có máu và dịch não tủy chảy ra.

3

+ Chọc hút khoang ngực, bụng không có máu tự do.

+ Chọc hút bàng quang không có nước tiểu.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 112/KLGĐTT-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N, kết luận:

Kết quả nghiên cứu hồ sơ bệnh án:

- Bệnh nhân Đinh Thị L1 vào viện với lý do bị tai nạn giao thông, trong tình trạng: hôn mê, Glasgow 4 điểm, Mạch 70 lần/phút, HA 190/100 mmHg.

- Khám lâm sàng: Đồng tử 2 bên giãn 4mm, PXAS (-). Sưng nề, rách da vùng thái dương trái.

- Cận lâm sàng: CTscaner sọ não (Hình ảnh tụ máu dưới màng cứng bán câu phải, dập não thái dương phải, phù não lan toả. Gãy cung tiếp xương gò má trái).

- Chẩn đoán: Chấn thương sọ não nặng.

Kết quả khám giám định: Trên tử thi Đinh Thị L1 có diện sưng nề, dập rách da, tụ máu vùng thái dương đỉnh trái.

- Cổ vững, ngực vững, khung chậu vững.

- Tụ máu diện rộng tổ chức cân cơ vùng thái dương - đỉnh trái. Tụ máu cơ thái dương bên trái. Tụ máu màng xương vùng thái dương - đỉnh trái.

- Kiểm tra thấy vỡ xương hộp sọ vùng thái dương trái, hướng đường vỡ lan chếch ra trước, xuống nền sọ, qua diện vỡ thấy có máu và dịch não tuỷ chảy ra.

- Chọc hút khoang ngực và khoang bụng không có máu tự do.

Kết luận: Nguyên nhân chết của Đinh Thị L1: Chấn thương sọ não.

Tại bản kết luận giám định số 115/KL-KTHS-HH ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

Kết luận giám định: Trong mẫu máu của tử thi Đinh Thị L1 sinh năm 1963, địa chỉ thường trú trước khi chết: xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình gửi giám định không có cồn (Ethanol).

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy của Công an huyện N: Hồi 14 giờ 25 phút ngày 25/12/2024 tại thôn A, xã G, huyện N đối với Trương Văn T xác định “Kết quả kiểm tra nồng độ cồn là 0,000mg/l khí thở và âm tính với các chất ma túy”.

Tại bản kết luận giám định số 232/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 19/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.

Quá trình điều tra, Trương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

4

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án bị cáo Trương Văn T đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại bà Đinh Thị L1 là ông Nguyễn Văn C tổng số tiền 150.000.000đồng. Sau khi nhận số tiền trên ông C không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trương Văn T

Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS, ngày 23/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án; Xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trương Văn T cho UBND xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Bị cáo bị xét xử nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà: Bị cáo Trương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn, phù hợp với kết luận giám định tử thi trên hồ sơ

5

của Phòng K - Công an tỉnh N, và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 25/12/2024, bị cáo Trương Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave@ màu xanh biển kiểm soát 35N1- 118.49 đi trên đường Đ hướng từ xã X - G, huyện N. Khi đi đến km2 + 800 đường tỉnh lộ 479 thuộc địa phận thôn A, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Do bị cáo Trương Văn T điều khiển xe mô tô không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát bà Đinh Thị L1 đang đi bộ cùng chiều dẫn đến tay lái bên phải xe mô tô do T điều khiển va vào phía sau bà L1 gây hậu quả nghiêm trọng làm bà Đinh Thị L1 bị tử vong. Hành vi nêu trên của bị cáo Trương Văn T đã vi phạm vào khoản 5 Điều 4 và khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008, đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ Luật giao thông đường bộ nhưng do chủ quan, không chú ý quan sát nên đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bà L1. Tuy bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý nhưng thiệt hại bị cáo gây ra là nghiêm trọng đã làm chết người nên để đảm bảo trật tự an toàn xã hội, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết. Hội đồng xét xử thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, lý lịch rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại, được gia đình người bị hại, làm đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, là lao động chính trong gia đình nên căn cứ vào các điều kiện được hưởng án treo cần áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo ấn định thời gian thử thách đồng thời giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư

6

trú và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án Trương Văn T đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại bà Đinh Thị L1 là ông Nguyễn Văn C tổng số tiền 150.000.000đồng. Sau khi nhận số tiền trên ông C không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Các vấn đề khác:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave@ màu xanh, biểm kiểm soát 35N1-118.49 kèm theo đăng ký xe mô tô và giấy phép lái xe thu giữ của Trương Văn T. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của Trương Văn T nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho Trương Văn T là có căn cứ.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, đại diện cho bị hại, được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1 - Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T 12 ( Mười hai ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 ( Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trương Văn T cho UBND xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3- Về án phí: Bị cáo Trương Văn T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, Người đại diện của người bị hại, có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND- HNQ;
  • - Chi cục THADS- HNQ;
  • - THAHS;
  • - Công an;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn./.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lâm Thị Thanh Nhàn

8

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Thanh N

9

10

11

12

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/ HS-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 34/2025/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo do không quan sát đã đam vào bị hại dẫn đến bị hại tử vong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger