Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày 12 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Văn Tỵ

2/ Ông Lê Minh Chiến

Thư ký phiên tòa: Ông Mang Đức Kham – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liệu - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1167/2025/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị Thùy T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1983 tại A, Bình Định; Nơi cư trú: khu vực H, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; số CCCD [...]; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc T1, sinh năm 1948 và bà Lê Thị H, sinh năm 1955; có chồng là Huỳnh Đình T2, sinh năm 1976; Con có 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: ngày 02/7/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xử phạt số tiền 5.000.000đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 41/2012/HSST (bị cáo đã thi hành xong Bản án ngày 02/6/2025); tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  1. Chị Phạm Thị Ngọc S, sinh năm 1985; địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  2. Bà Lê Thị Quỳnh L, sinh năm 1970; địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  3. Bà Lê Thị Bạch P, sinh năm 1966; địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  4. Chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1985; địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  5. Chị Lê Thị Quỳnh T3, sinh năm 1975; địa chỉ: khu vực H, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  6. Chị Trần Thị Mỹ H1, sinh năm 1981; địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  7. Bà Lò Thị Kim O, sinh năm 1963; địa chỉ: thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  8. Chị Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1980; địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  9. Bà Lê Thị Tuyết M, sinh năm 1950; địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  10. Ông Phạm Văn T4, sinh năm 1976; địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, Phạm Thị Ngọc S, Lê Thị Quỳnh L, Lê Thị Bạch P, Nguyễn Thị Thu N đến hè nhà bà Lê Thị Mỹ D tại khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định ngồi chơi. Tại đây, S, P, N và L thấy bộ dụng cụ chơi lô tô để sẵn tại gốc cây trước nhà nên rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền.

Luật chơi như sau: Dụng cụ chơi lô tô gồm các tấm vé lô tô in các con số ngẫu nhiên từ số 1 đến số 90, mỗi tấm vé có 09 cột, 09 hàng, trên mỗi hàng có 05 con số, còn trên các cột số lượng số ngẫu nhiên; một thùng chứa 90 khối nhựa khắc tương ứng các con số từ 1 đến số 90 để người chơi bốc ra gọi số; một thùng các viên sỏi để người chơi đánh dấu các con số gọi ra. Khi bắt đầu chơi, giữa những người chơi chọn ra ngẫu nhiên một người làm "cái" là người có nhiệm vụ bốc số lô tô một cách ngẫu nhiên và hô số bốc được cho mọi người biết và dò theo. Những người chơi còn lại kể cả người làm “cái” chỉ cần dò số hay đánh dấu vào tấm vé mình đã mua nếu con số được bốc trùng với con số trên tấm vé của mình. Nếu người nào may mắn có đủ 5 con số trên tấm vé theo hàng ngang thì hô to "kinh" và trở thành người chiến thắng sẽ được số tiền những người chơi đã bỏ ra để mua các tấm vé lô tô. Mỗi tấm vé lô tô có mệnh giá 5.000đ.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, bị cáo Trần Thị Thùy T và Lê Thị Quỳnh T3, Trần Thị Mỹ H1 đến tham gia đánh bạc. Cả nhóm đánh bạc đến 16 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Công an thị xã A phát hiện, lập biên bản, tạm giữ tang vật gồm: số tiền 290.000đ để dưới nền nhà và 01 bộ đồ chơi lô tô.

Quá trình làm việc, các đối tượng khai nhận ngoài số tiền tang vật nói trên còn sử dụng tiền mang theo trong người để đánh bạc và tự nguyện giao nộp gồm:

  • Trần Thị Mỹ H1 giao nộp số tiền 100.000₫
  • Nguyễn Thị Thu N giao nộp số tiền số tiền: 466.000₫
  • Lê Thị Bạch P giao nộp số tiền 210.000₫
  • Lê Thị Quỳnh T3 giao nộp số tiền 80.000₫
  • Bị cáo Trần Thị Thùy T giao nộp số tiền 673.000đ.

Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 1.819.000đ (Một triệu tám trăm mười chín nghìn đồng).

Quá trình điều tra, xác định ngoài hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi lô tô nói trên, từ ngày 05/5/2024 đến ngày 22/5/2024 bị cáo Trần Thị Thùy T còn sử dụng điện thoại di động, hiệu Vivo, gắn sim số 0934.931.404, đăng nhập tài khoản Zalo “HUYNH ANH THU” nhắn tin ghi số lô đề với Nguyễn Thị Bích V thông qua số điện thoại 0795.718.xxx của V và Lò Thị Kim O thông qua tài khoản Zalo “Oanh O”, đăng ký bằng số điện thoại 0931.988.xxx của O 09 lần. Sau khi ghi số lô đề cho V và O, bị cáo T chuyển tất cả số lô đã ghi được cho một số đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) qua nhóm zalo “c tâm” để hưởng hoa hồng với mức 400 đồng/điểm đài miền T và 1.400 đồng/điểm đài miền B (không phân biệt bao lô hay đá cặp).

Về phương thức ghi đề như sau:

- Đầu, cuối, bao lô 02 chân (có 18 lô), bao lô 03 chân (17 lô), đá (xiên) cặp số đề 02 chân, đá (xiên) cặp số đề 03 chân đối với kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Trung.

- Đầu, cuối, bao lô 02 chân (có 27 lô), bao lô 03 chân (23 lô); đá (xiên) cặp số đề 02 chân, đá (xiên) cặp số đề 03 chân, đối với kết quả xổ số kiến thiết Miền B.

- Tỷ lệ thắng chung: 1/70 (đối với 02 chân - đài các tỉnh Miền Trung; 1/80 (đối với 02 chân - đài Miền B) và 1/600 (đối với 03 chân); đá (xiên) 02 chân trúng 01 điểm chung 300.000 đồng. Trâm bán 01 điểm con số đề bao lô 02 chân là 13.000 đồng đối với đài các tỉnh Miền Trung và bán 23.000 đồng đối với đài Miền B.

Thỏa thuận, những người chơi đề sẽ nhắn tin vào số điện thoại di động của T để ghi đề, T sẽ trả lời bằng nhắn tin xác nhận “OK”. Các lần cụ thể:

Lần thứ nhất: Theo kết quả xổ số tỉnh Khánh Hoà ngày 05/5/2024

Lúc 16 giờ 43 phút ngày 05/5/2024, V nhắn tin mua bao lô các số 86, 68 mỗi lô 20 điểm và 10 điểm lô đá 86-68. Số tiền V phải trả cho bị cáo T là 50 điểm x 13.000 đồng/điểm = 650.000 đồng. Kết quả xổ số, V không trúng lô số đã mua.

Như vậy số tiền đánh bạc của V và T là 650.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của T là 20.000 đồng (50 điểm x 400 đồng/điểm)

Lần thứ hai: Theo kết quả xổ số tỉnh Kon Tum ngày 19/5/2024

Lúc 16 giờ 43 phút ngày 19/5/2024, V mua bao lô số 99 là 30 điểm và đầu cuối số 00 là 100.000 đồng. Số tiền V phải trả cho bị cáo T khi mua lô số trên là: 30 điểm x 13.000 đồng/điểm + 100.000 đồng = 490.000 đồng. Kết quả xổ số, V không trúng lô số đã mua.

Như vậy, số tiền đánh bạc của T và V là 490.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của T là 12.000 đồng (30 điểm x 400 đồng/điểm).

Lần thứ 3: Theo kết quả xổ số miền B ngày 19/5/2024

Lúc 17 giờ 52 phút ngày 19/5/2024, V mua bao lô số 77, 88, 99 mỗi lô 10 điểm và đá các cặp số đề 77- 88, 77-99, 88- 99 mỗi cặp là 10 điểm. Số tiền V phải trả cho T khi mua các số lô đề trên 60 điểm x 23.000 đồng/điểm = 1.380.000 đồng. Kết quả xổ số, V trúng 10 điểm bao lô số 77 với số tiền trúng 10 điểm x 80.000 đồng/điểm = 800.000 đồng.

Như vậy, số tiền đánh bạc của V và T là 1.380.000 đồng + 800.000 đồng = 2.180.000 đồng. Bị cáo T thu lợi số tiền là 84.000 đồng. (60 điểm x 1.400 đồng/điểm)

Lần thứ 4: Theo kết quả xổ số tỉnh Phú Yên ngày 20/5/2024

Lúc 16 giờ 46 phút ngày 20/5/2024, V mua bao lô các số 28, 82 mỗi lô 20 điểm và 10 điểm đá cặp số 28-82. Số tiền V phải trả cho T khi mua các lô số trên là 50 điểm x 13.000 đồng/điểm = 650.000 đồng. Kết quả xổ số, V không trúng lô số đã mua.

Như vậy số tiền đánh bạc giữa V và T là 650.000 đồng. Bị cáo T thu lợi số tiền là 20.000 đồng (50 điểm x 400 đồng/điểm).

Lần thứ 5: Theo kết quả xổ số miền B ngày 20/5/2024

Lúc 17 giờ 47 phút ngày 20/5/2024, V bao lô các số 54, 45 mỗi số 20 điểm và 10 điểm đá cặp lô số 54-45. Số tiền V phải trả cho T khi mua các lô số trên là 50 điểm x 23.000 đồng/điểm = 1.150.000 đồng. Kết quả xổ số, V trúng 20 điểm bao lô số 45 với số tiền thắng 20 điểm x 80.000 đồng = 1.600.000 đồng.

Như vậy số tiền đánh bạc của V và T là 1.150.000 đồng + 1.600.000 đồng = 2.750.000 đồng. Bị cáo T thu lợi số tiền 70.000 đồng.

Lần thứ 6: Theo kết quả xổ số tỉnh Đăk Lăk ngày 21/5/2024

Lúc 16 giờ 35 phút ngày 21/5/2024, V bao lô các số 01, 10, 05, 50 mỗi lô là 10 điểm và đá các cặp số 01-10, 01-05, 01-50, 10-05, 10-50, 05-50 mỗi cặp 10 điểm. Số tiền V phải trả cho T khi mua các lô số trên là 100 điểm x 13.000 đồng/điểm = 1.300.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số V không trúng lô số đã mua.

Như vậy số tiền đánh bạc của V và T là 1.300.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo T là 40.000 đồng

Lần thứ 7: Theo kết quả xổ số miền Bắc ngày 21/5/2024:

Lúc 17 giờ 41 phút ngày 21/5/2024, V mua bao lô các số 17, 71, 05, 50 mỗi lô là 10 điểm và đá cặp các cặp số 17-71, 17-05, 17-50, 71-05, 71-50, 05-50 mỗi cặp là 10 điểm. Số tiền V phải trả cho T là 100 điểm x 23.000 đồng = 2.300.000 đồng. Kết quả xổ số, V trúng 10 điểm bao lô số 50 với số tiền thắng là 10 điểm x 80.000 đồng = 800.000 đồng.

Như vậy số tiền đánh bạc của V và T là: 2.300.000 đồng + 800.000 đồng = 3.100.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của T là 140.000 đồng.

Lần thứ 8: Theo kết quả xổ số tỉnh Khánh Hoà ngày 22/5/2024

Lúc 17 giờ 08 phút ngày 22/5/2024, O mua bao lô các số 57, 75, 89, 98 mỗi lô 05 điểm và đá cặp các số 57-75, 57-89, 57-98, 75-89, 75-98, 89-98 mỗi cặp 05 điểm; bao lô các số 05, 50, 07, 70 mỗi lô là 05 điểm và đá cặp các số 05-50, 05-07, 05-70, 50-07, 50-70, 07-70 mỗi cặp 05 điểm. Số tiền O phải trả khi mua lô số trên là 100 điểm x 13.000 đồng/điểm = 1.300.000 đồng. Kết quả xổ số, O trúng 05 điểm bao lô số 75 và 05 điểm bao lô số 70 với số tiền thắng là 10 điểm x 70.000 đồng = 700.000 đồng.

Như vậy số tiền đánh bạc của T và O là 1.300.000 đồng + 700.000 đồng = 2.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của T là 40.000 đồng.

Lần thứ 9: Theo kết quả xổ số miền B ngày 22/5/2024.

Lúc 17 giờ 40 phút ngày 22/5/2024, V mua bao lô các số 57, 75 mỗi lô 20 điểm và 10 điểm đá cặp số 57-75. Số tiền V phải trả cho T khi mua lô số trên là: 50 điểm x 23.000 đồng/điểm = 1.150.000 đồng. Kết quả xổ số, V trúng 20 điểm bao lô số 75 với số tiền thắng là 20 điểm x 80.000 đồng = 1.600.000 đồng.

Như vậy số tiền đánh bạc của V và T là: 1.150.000 đồng + 1.600.000 đồng = 2.750.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của T là 70.000 đồng.

- Lúc 18 giờ 05 phút ngày 22/5/2024, O bao lô các số 07, 70 mỗi lô 10 điểm và 05 điểm đá cặp số 07-70. Số tiền O phải trả cho T khi mua lô số trên là: 25 điểm x 23.000 đồng/điểm = 575.000 đồng. Kết quả xổ số O không trúng lô số đã mua.

Như vậy số tiền đánh bạc của T và O là 575.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của T là 35.000 đồng.

Tổng số tiền thu lợi bất chính của bị cáo T qua các lần đánh bạc bằng hình thức ghi đề là 531.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSAN ngày 05 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn truy tố bị cáo Trần Thị Thùy T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, về điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị Thùy T phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy T từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.819.000đ (Một triệu tám trăm mười chín nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo của Trần Thị Thùy T.

+ Buộc bị cáo Trần Thị Thùy T nộp số tiền thu lợi bất chính 531.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo Trần Thị Thùy T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, các người làm chứng Phạm Thị Ngọc S, Lê Thị Quỳnh L, Lê Thị Bạch P, Nguyễn Thị Thu N, Lê Thị Quỳnh T3, Trần Thị Mỹ H1, Lò Thị Kim O, Nguyễn Thị Bích V, Lê Thị Tuyết M, Phạm Văn T4 vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra họ đã cung cấp lời khai. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng này.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Thùy T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập tại hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Ngày 23/5/2024, bị cáo Trần Thị Thùy T cùng với các đối tượng: Phạm Thị Ngọc S, Lê Thị Quỳnh L, Lê Thị Quỳnh T3, Lê Thị Bạch P, Nguyễn Thị Thu N, Trần Thị Mỹ H1 sử dụng hiên nhà bà Lê Thị Mỹ D ở khu V, phường N, thị xã A để đánh bạc được thu bằng tiền dưới hình thức lô tô, với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 1.819.000 đồng. Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 05/5/2024 đến ngày 23/5/2024, bị cáo Trần Thị Thùy T còn 09 lần thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô đề với Lò Thị Kim O và Nguyễn Thị Bích V, số tiền đánh bạc mỗi lần dưới 5.000.000 đồng.

[4] Bị cáo Trần Thị Thùy T đã bị kết án về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 41/2012/HSST ngày 02/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc nên hành vi của bị cáo Trần Thị Thùy T đã phạm vào tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 28/CT-VKSAN ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn truy tố đối với bị cáo Trần Thị Thùy T là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Bị cáo Trần Thị Thùy T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ý thức được đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào đều bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh, lành mạnh của cộng đồng dân cư, làm mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý bằng chế tài hình sự để trừng trị, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền đánh bạc không lớn và không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho gia đình và Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.

[8] Về khấu trừ thu nhập: Theo khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự thì trong thời gian chấp hành án, người bị phạt cải tạo không giam giữ bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước vào hằng tháng. Xét, bị cáo Trần Thị Thùy T không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo T miễn khấu trừ thu nhập.

[9] Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

  • + Đối với số tiền 1.819.000đ là tiền bị cáo T và các đối tượng Phạm Thị Ngọc S, Lê Thị Quỳnh L, Lê Thị Quỳnh T3, Lê Thị Bạch P, Nguyễn Thị Thu N, Trần Thị Mỹ H1 dùng để đánh bạc, nên tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo là công cụ bị cáo T3 sử dụng nhắn tin mua bán lô đề với các con bạc nên tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • + Số tiền bị cáo T3 thu lợi bất chính qua các lần đánh bạc là 531.000 đồng nên tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • + 01 (một) bộ đồ chơi lô tô, gồm: 14 tờ vé lô tô, 01 bộ số từ 1 đến 90; 01 (một) túi chứa các viên sỏi là công cụ bị cáo T3 và các đối tượng Phạm Thị Ngọc S, Lê Thị Quỳnh L, Lê Thị Quỳnh T3, Lê Thị Bạch P, Nguyễn Thị Thu N, Trần Thị Mỹ H1 sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định buộc tiêu hủy.

[10] Trong vụ án này, bị cáo và các đối tượng đánh bạc tại nhà bà Lê Thị Mỹ D. Tuy nhiên, bà D không biết các đối tượng sử dụng hiên nhà mình để đánh bạc và cũng không thu lợi từ các đối tượng nên cơ quan CSĐT Công an tỉnh B không xử lý đối với bà D là có căn cứ.

[11] Đối với Phạm Thị Ngọc S, Lê Thị Quỳnh L, Lê Thị Quỳnh T3, Lê Thị Bạch P, Nguyễn Thị Thu N, Trần Thị Mỹ H1, Lò Thị Kim O và Trần Thị Bích V1 là những người cùng đánh bạc với bị cáo Trần Thị Thùy T. Tuy nhiên, số tiền mỗi lần đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng và chưa bị xử lý hành chính hay bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hay gá bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với các đối tượng là có căn cứ.

[12] Đối với các đối tượng sử dụng tài khoản Zalo “Hồng Hoa” và “Củ Cải X” mà bị cáo Trần Thị Thùy T nộp tịch đề. Trong quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng này nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh. Khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Thị Thùy T phải chịu 200.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thùy T phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy T 12(mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh B nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
  3. Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Thị Thùy T vì bị cáo không có thu nhập ổn định.

  4. Về xử lý vật chứng:
    • + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.819.000đ (Một triệu tám trăm mười chín nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo của Trần Thị Thùy T.
    • (Các vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2025 và Giấy nộp tiền mặt ngày 12/5/2025)

    • + Buộc bị cáo Trần Thị Thùy T nộp khoản tiền thu lợi bất chính 531.000đ (năm trăm ba mươi mốt nghìn đồng) sung công quỹ Nhà nước.
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Thị Thùy T phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).
  6. Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Công an tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TX. An Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã An Nhơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ái Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thùy T phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger