|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HSST Ngày 10 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Khởi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Nhạn
- Bà Cao Thị Mỹ Phượng
Thư ký phiên tòa: ông Lê Trần Công Minh – thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: ông Trần Chí Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 10/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/HSST ngày 06/5/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/HSST-QĐ ngày 21/5/2025 đối với các bị cáo:
- HUỲNH HỮU DIỄN, sinh ngày: 15/6/1996; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện tại: ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Huỳnh Văn T và bà Phạm Kiều H; Vợ, con: không; Tiền án, Tiền sự: không.
- PHẠM HOÀNG NHẬT Q, sinh ngày: 23/9/2005; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Áp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện tại: Ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Phạm Đức N và bà Phạm Thị Thúy N1; Vợ, con: không; Tiền án, Tiền sự: không.
- NGÔ MINH TUẤN, sinh ngày: 04/5/2004; tên gọi khác: Tuấn C; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện tại: ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Ngô Văn T1 và bà Trần Thị P; Vợ, con: không;
- PHẠM PHÚC Đ, sinh ngày: 24/4/2002; tên gọi khác: Cu Te; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện tại: Ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Phạm Văn N2 và bà Võ Tuyết V; Vợ, con: không;
- NGUYỄN THỊ NHƯ Ý, sinh ngày: 29/9/2001; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện tại: Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Đỗ Văn P1 và bà Nguyễn Cẩm T2; Chồng: Nguyễn Văn Chí N3; Con ruột: 01 người; Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/5/2024 và chuyển tạm giam từ ngày 28/5/2024 cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 và chuyển tạm giam từ ngày 28/5/2024 cho đến nay.
Tiền án: ngày 24/4/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 21/10/2023, chưa xóa án tích.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 và chuyển tạm giam từ ngày 28/5/2024 cho đến nay.
Nhân thân: ngày 10/12/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 27/01/2022, đã được xóa án tích.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024 và chuyển tạm giam từ ngày 28/5/2024 cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại:
Người bị hại: ông Nguyễn Quốc B – sinh ngày: 01/11/1997
Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu
(Bị hại có yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác, vào ngày 22/5/2024 tại phòng trọ số 1, nhà T thuộc Ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu các bị cáo Huỳnh Hữu D, Phạm Phúc Đ, Ngô Minh T3, Phạm Hoàng Nhật Q, Nguyễn Thị Như Ý, dùng tay đánh, chân đá, dùng dao, kéo là hung khí nguy hiểm đe dọa Nguyễn Quốc B để cướp số tiền 400.000 đồng, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển kiểm soát 94E1 - 107.31; 01 (một) cái điện thoại cảm ứng OPPO A5S màu xanh. Qua định giá kết luận tài sản chiếm đoạt trị giá 5.200.500 đồng. Tổng tài sản chiếm đoạt 5.600.500 đồng. Bên cạnh đó, ngày 22/5/2024 Huỳnh Hữu D, Phạm Phúc Đ, Ngô Minh T3, Phạm Hoàng Nhật Q cung cấp trái phép chất ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, địa điểm cho Nguyễn Thị Như Ý, Phạm Văn H1 và Nguyễn Quốc B sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần (03 lần) tại phòng trọ số A nhà T thuộc Ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Qua kết quả xét nghiệm chất ma túy trên cơ thể của Nguyễn Thị Như Ý, Phạm Văn H1, Nguyễn Quốc B đều dương tính chất ma túy, loại Methamphetamine. Ngoài ra, Huỳnh Hữu D, Phạm Phúc Đ, Ngô Minh T3, Phạm Hoàng Nhật Q thay phiên giữ Nguyễn Quốc B nhằm mục đích hạn chế quyền đi lại và không cho B về nhà từ tối ngày 22/5/2024 đến rạng sáng ngày 24/5/2024. Ngày 23/5/2024 Huỳnh Hữu D đã bắt buộc Nguyễn Quốc B mang số tiền 1.900.000 đồng để chuộc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển kiểm soát 94E1 - 107.31. Trong lúc B giao tiền 1.900.000 đồng cho D tại trước cửa phòng trọ số 4, nhà T thuộc ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu thì bị lực lượng Công an thị xã G bắt quả tang Huỳnh Hữu D cùng tang vật nêu trên.
Tại Cáo trạng số 10/CT- VKS-HS ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố các bị cáo Huỳnh Hữu D về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168; “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157; “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Phạm Phúc Đ, Ngô Minh T3, Phạm Hoàng Nhật Q về các tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168; “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Thị Như Ý về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai vẫn giữ nguyên bản Cáo trạng đã truy tố:
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 170 và điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu D:
- 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”
- 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- 06 tháng đến 09 tháng về tội “Giữ người trái pháp luật”
- 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”
Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành 15 năm 06 tháng đến 17 năm 07 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm d khoản 2 Điều 168 và điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Nhật Q:
- 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”
- 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- 06 tháng 09 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”
Tổng hợp hình phạt chung buộc mỗi bị cáo phải chấp hành từ 14 năm 06 tháng đến 15 năm 09 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm d khoản 2 Điều 168 và điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Minh T3:
- 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”
- 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- 06 tháng 09 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”
Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 14 năm 06 tháng đến 15 năm 09 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm d khoản 2 Điều 168 và điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Phúc Đ:
- 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”
- 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- 06 tháng 09 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”
Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 14 năm 06 tháng đến 15 năm 09 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như Ý từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- 03 (ba) cây phễu thủy tinh (nỏ) một đầu hình cầu và một đầu hình trụ,
- 01 (một) bật lữa màu xám, nắp màu đen, chiều dài 08 cm,
- 01 (Một) danh thiếp của cửa hàng điện thoại di động “KHÁNH CHI”, màu cam,
- 01 (Một) cây dao, có lưỡi bằng kim loại, cán màu vàng, bằng nhựa, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI BRAND - MADE IN THAILAND,
- 01 (Một) cây dao, có lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, có tổng chiều dài 46cm, không có tên, nhãn hiệu
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Giao trả cho bị cáo Huỳnh Hữu D: 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, mặt lưng màu đen có dòng chữ OPPO, trên mặt kính màn hình có một điểm vỡ;
Giao trả cho bị cáo Ngô Minh T3:
- 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu vàng đồng, có logo thương hiệu APPLE và dòng chữ Iphone.
- 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu đen có dòng chữ OPPO.
Giao trả cho bị cáo Phạm Phúc Đ: 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen trên kính màn hình có dòng chữ ASPERA.
Giao trả cho bị cáo Phạm Hoàng Nhật Q: 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen trên kính màn hình và mặt lưng có dòng chữ NOKIA.
Giao trả cho bị cáo Nguyễn Thị Như Ý: 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh.
Các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, các bị cáo cũng đã ăn năn hối cải về hành vi của mình bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Nguyễn Quốc B có yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thị xã G, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Hữu D; Phạm Phúc Đ, Phạm Hoàng Nhật Q, Ngô Minh T3 và Nguyễn Thị Như Ý không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Hữu D; Phạm Phúc Đ, Phạm Hoàng Nhật Q, Ngô Minh T3 và Nguyễn Thị Như Ý đã thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu khác nên đủ cơ sở kết luận:
- Tại Kết luận định giá tài sản số: 38 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S có giá còn lại là: 1.790.000 đồng/chiếc.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển kiểm soát 94E1- 107.31 tại thời điểm yêu cầu định giá tài sản có giá là: 3.500.000 đồng.
Tổng cộng thành tiền là: 5.200.500 đồng.
- Hình thức thực hiện hành vi của các bị cáo: bị cáo D, Q, T3, Đ, P2 trực tiếp cầm hung khí uy hiếp tinh thần của B và chiếm đoạt tài sản của B số tiền là 400.000đ, một chiếc điện thoại và xe máy của B. Đối với bị cáo Ý mặc dù không trực tiếp nhưng Ý cùng với các bị cáo Đ, D, Q, T3 sử dụng số tiền của B để chi xài và mua ma túy sử dụng. Các bị cáo D, Q, T3, Đ sau khi lấy tiền, điện thoại của B thì D kêu T3 mua ma túy, cùng Q cầm điện thoại của B về tổ chức cho B, Ý, H1 sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy, D, T3, Q, Đ trực tiếp quản lý sự đi lại của B bằng hình thức đóng cửa phòng, thay phiên nhau canh giữ không cho B về. Đến ngày 24/5/2024 Diễn trực tiếp yêu cầu B kêu gia đình mang 2.000.000đ để chuộc bảo về. Từ các hành vi trên nên Cáo trạng số 10/CT- VKS-HS ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Huỳnh Hữu D về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168; “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157; “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Phạm Phúc Đ, Ngô Minh T3, Phạm Hoàng Nhật Q về các tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168; “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Thị Như Ý về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, không oan cho các bị cáo.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp vào quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm vào quyền tự do của người khác và xâm phạm trực tiếp vào hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội và thực hiện với lỗi cố ý.
- Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: đây chỉ là hình thức đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, không có sự phân công vai trò từng người trong việc thực hiện hành vi phạm tội, do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung tương ứng với từng hành vi của từng bị cáo.
- Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về tình tình tiết tăng nặng, các bị cáo Phạm Phúc Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 21/10/2023, chưa xóa án tích. Nên bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của bộ luật hình sự.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- 03 (ba) cây phễu thủy tinh (nỏ) một đầu hình cầu và một đầu hình trụ,
- 01 (một) bật lữa màu xám, nắp màu đen, chiều dài 08 cm,
- 01 (Một) danh thiếp của cửa hàng điện thoại di động “KHÁNH CHI”, màu cam,
- 01 (Một) cây dao, có lưỡi bằng kim loại, cán màu vàng, bằng nhựa, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI BRAND - MADE IN THAILAND,
- 01 (Một) cây dao, có lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, có tổng chiều dài 46cm, không có tên, nhãn hiệu
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Giao trả cho bị cáo Huỳnh Hữu D: 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, mặt lưng màu đen có dòng chữ OPPO, trên mặt kính màn hình có một điểm vỡ;
Giao trả cho bị cáo Ngô Minh T3:
- 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu vàng đồng, có logo thương hiệu APPLE và dòng chữ Iphone.
- 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu đen có dòng chữ OPPO.
Giao trả cho bị cáo Phạm Phúc Đ: 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen trên kính màn hình có dòng chữ ASPERA.
Giao trả cho bị cáo Phạm Hoàng Nhật Q: 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen trên kính màn hình và mặt lưng có dòng chữ NOKIA.
Giao trả cho bị cáo Nguyễn Thị Như Ý: 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh.
- về trách nhiệm dân sự: Do những người bị hại và người liên quan không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Xét ý kiến đề xuất xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai về hình phạt, điều luật là có căn cứ nên được chấp nhận.
- Các bị cáo có nghĩa vụ chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Giữa Nguyễn Thị Như Ý và Nguyễn Quốc B quen nhau qua mạng xã hội Facebook, ngày 22/5/22024 B có nhắn tin rủ Ý đi nhà nghỉ và sử dụng ma túy nhưng Ý không đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, Ý gặp Phạm Phúc Đ và nói cho Đ biết B nhắn tin rủ Ý đi nhà trọ và sử dụng ma túy, Đ kêu Ý nhắn tin rủ B xuống phòng trọ số 1, để đánh B, Ý đồng ý. Đ qua phòng H1 gặp Huỳnh Hữu D, Ngô Minh T3, Phạm Hoàng Nhật Q và H1. Đ nói khi nào B đến phòng trọ số 1 thì qua đánh B, tất cả đồng ý.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94E1 - 107.31 vào phòng trọ gặp Ý, khi vào bên trong phòng, Đ từ phòng của H1 chạy qua trước đập cửa, B; D, T3, Q xong vào dùng tay đánh, chân đá, liên tục nhiều cái vào vùng mặt và vùng bụng của B làm rớt điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO A5S màu xanh, T3 lấy điện thoại cầm trên tay. Đánh xong, D kêu B đi lên trên gác, Đ, T3, D, Q và Ý cùng đi lên gác, D cầm cây dao bấm, Q cầm cây dao cán vàng, T3 cầm cây kéo. Diễn kêu B đưa điện thoại và ví (cái bóp) tiền, B lấy trong túi ra để xuống nền gồm: 01 (một) cái ví bên trong có số tiền 404.000 đồng và 01 (một) cái điện thoại bấm phím không có sim. Diễn mở ví lấy số tiền 200.000 đồng đưa cho Q, kêu đi mua thuốc hút và nước uống.
Lúc này, Đ hỏi B “Mày rủ bạn gái tao đi nhà trọ chơi ma túy rồi ma túy mày đâu”, B trả lời “Trong cóp xe” nên D lấy chìa khóa xe của B đưa cho T3 mở cóp xe lấy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong có 01 nỏ thủy tinh có chứa ma túy, T3 mang lên gác để tất cả sử dụng và B cùng sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, D lấy thêm số tiền 200.000 đồng trong ví và trả lại ví cùng 01 (một) cái điện thoại bấm phím không có sim cho B; D đưa tiền cho T3 đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Mua ma túy xong, T3 đem về và cùng Đ, Q, D, Ý và B sử dụng.
Khi sử dụng xong, D lấy điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO A5S của B đi cầm, tại tiệm cầm đồ “Khánh Chi” cầm được số tiền 500.000 đồng, chủ tiệm cầm đồ “Khánh Chi” chuyển tiền vào tài khoản của Đ. Sau đó, D và Q rút số tiền 300.000 đồng mua ma túy. Sau khi, mua ma túy Q điều khiển xe mô tô chở D về phòng trọ số 1, tại đây Đ, T3, D, Q tổ chức sử dụng ma túy và Ý, B và H1 đi qua sử dụng cùng các bị cáo. Sử dụng ma túy xong, D kêu B lên gác ngủ, Đ, Ý ngủ phía dưới, D, T3, Q ngồi gần khu vực cửa phòng phía dưới và khóa cửa lại không cho B về.
Đến sáng ngày 23/5/2024, Đ điều khiển xe mô tô chở Ý về phòng trọ của Ý, sau đó Đ mua cơm và đi đến phòng trọ cho D, T3, Q và B ăn. Tại đây Đ, T3, D, Q quản lý sự đi lại của B mục đích không cho B về nhà. Khoảng 18 giờ ngày 23/5/2024 D kêu B lên gác buộc B gọi điện về nhà nói “là B đi ra ngoài này chơi mượn tiền người ta không có tiền trả, xin cha B gửi tiền ra chuộc B về”. Đến khoảng 02 giờ ngày 24/5/2024 D kêu B về nhà mang số tiền 2.000.000 đồng đến chuộc xe mô tô 94E1 - 107.31, B đồng ý, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/5/2024 B mang số tiền 1.900.000 đồng đến gặp và đưa cho D trước phòng trọ số 4 nhà T để chuộc lại xe thì bị lực lượng Công an thị xã G bắt quả tang và tạm giữ tang vật nêu trên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/- Tuyên bố:
Bị cáo: Huỳnh Hữu D phạm tội: “Cướp tài sản”; “Giữ người trái pháp luật”; “Cưỡng đoạt tài sản”; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Các bị cáo: Ngô Minh T3, Phạm Hoàng Nhật Q, Phạm Phúc Đ phạm tội: “Cướp tài sản”; “Giữ người trái pháp luật”; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Nguyễn Thị Như Ý phạm tội “Cướp tài sản”
- 1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm d khoản 2 Điều 168; Khoản 1 Điều 170; điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu D:
- 07 (B1) năm tù về tội “Cướp tài sản”
- 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- 01 (Một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”
- 09 (C1) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”
Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là: 15 (Mười lăm) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 25/5/2024.
- 1.2. Căn cứ Khoản 1 Điều 157; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Nhật Q:
- 07 (B1) năm tù về tội “Cướp tài sản”
- 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- 06 (S) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”
Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là: 14 (Mười bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 26/5/2024.
- 1.3. Căn cứ Khoản 1 Điều 157; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ngô Minh T3:
- 07 (B1) năm tù về tội “Cướp tài sản”
- 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- 06 (S) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”
Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là: 14 (Mười bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 26/5/2024
- 1.4. Căn cứ Khoản 1 Điều 157; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Phúc Đ:
- 07 (B1) năm tù về tội “Cướp tài sản”
- 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- 06 (S) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”
Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là: 14 (Mười bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 26/5/2024.
- 1.5. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như Ý: 07 (B1) năm tù về tội “Cướp tài sản”
Thời hạn tù được tính kể từ ngày 09/8/2024
2/- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- 03 (ba) cây phễu thủy tinh (nỏ) một đầu hình cầu và một đầu hình trụ,
- 01 (một) bật lữa màu xám, nắp màu đen, chiều dài 08 cm,
- 01 (Một) danh thiếp của cửa hàng điện thoại di động “KHÁNH CHI”, màu cam.
- 01 (Một) cây dao, có lưỡi bằng kim loại, cán màu vàng, bằng nhựa, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI BRAND - MADE IN THAILAND.
- 01 (Một) cây dao, có lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, có tổng chiều dài 46cm, không có tên, nhãn hiệu.
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Giao trả cho bị cáo Huỳnh Hữu D: 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, mặt lưng màu đen có dòng chữ OPPO, trên mặt kính màn hình có một điểm vỡ;
Giao trả cho bị cáo Ngô Minh T3:
- 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu vàng đồng, có logo thương hiệu APPLE và dòng chữ Iphone.
- 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu đen có dòng chữ OPPO.
Giao trả cho bị cáo Phạm Phúc Đ: 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen trên kính màn hình có dòng chữ ASPERA.
Giao trả cho bị cáo Phạm Hoàng Nhật Q: 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen trên kính màn hình và mặt lưng có dòng chữ NOKIA.
Giao trả cho bị cáo Nguyễn Thị Như Ý: 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3- Án phí: áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Huỳnh Hữu D; Phạm Phúc Đ; Ngô Minh T3; Phạm Hoàng Nhật Q; Nguyễn Thị Như Ý mỗi bị cáo có nghĩa vụ chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai.
4/. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Quốc K |
Bản án số 34/2025/HSST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU về vụ án hình sự về tội cướp tài sản, giữ người trái pháp luật, cưỡng đoạt tài sản và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 34/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Cướp tài sản, Giữ người trái pháp luật, Cưỡng đoạt tài sản và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Hữu Diễn + ĐB
