|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HS-ST
Ngày: 10-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Quốc Trung
- Bà Trần Thị Bích Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 261/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Đặng Minh T, sinh năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số E Lô B chung cư C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: Số I đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Bốc xếp; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 3/12; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Minh S và bà Đặng Thị Tuyết L; Vợ: Không; Con: Không.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/5/2025, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 11 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bản án số 48/2025/HS-ST.
Bị cáo đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- Bà Phạm Thị Xuân L1, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1998 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số B, Ấp D, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Phòng trọ số H, Nhà số A đường L, Ấp B, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Rạng sáng ngày 11/6/2024, Phạm Đặng Minh T điều khiển xe mô tô Honda, loại Wave, màu xanh - tím, biển số: 54Z5 - 9906 chạy rảo quanh các tuyến đường từ Quận G đến đường N thuộc xã L, huyện N tìm người có tài sản để chiếm đoạt. T chuẩn bị sẵn 01 chiếc tuốc nơ vít bằng kim loại dài khoảng 20cm để trong túi quần làm hung khí cướp tài sản.
Khoảng 05 giờ 10 phút cùng ngày, T nhìn thấy bà Phạm Thị Xuân L1 đang bán đồ ăn sáng tại nhà số B, Ấp D, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, trên cổ bà L1 có đeo sợi dây chuyền vàng. T quan sát xung quanh thấy quán vắng người nên nảy sinh ý định cướp sợi dây chuyền. Theo đó, T điều khiển xe mô tô chạy qua khỏi vị trí của bà L1 khoảng 10 mét thì dừng lại và đậu xe tại trước cửa nhà số B, Ấp D, xã L, huyện N. Rồi T xuống xe đi bộ đến vị trí bà L1, giả vờ hỏi mua đồ ăn. Khi bà L1 đang làm đồ ăn bán cho T thì T dùng tay phải giật mạnh sợi dây chuyền đeo trên cổ của bà L1, còn tay trái T đưa vào túi quần bên trái cầm sẵn cây tuốc nơ vít, mục đích đe dọa để cướp sợi dây chuyền. Sợi dây chuyền bị đứt nhưng bà L1 chụp giữ lại được sợi dây chuyền và chạy lùi vào bên trong nhà thì bị vấp té. T vừa đuổi theo vừa dùng tay trái lấy trong túi quần ra cây tuốc nơ vít, đe dọa bà L1 để cướp cho bằng được sợi dây chuyền của bà L1 đang cầm trên tay. Bà L1 thấy T cầm hung khí, không dám chống cự, tri hô nên T cướp được sợi dây chuyền rồi nhanh chóng chạy về chỗ chiếc xe mô tô đang đậu, khởi động máy tẩu thoát về hướng Quận G. T mang sợi dây chuyền cướp được bán cho tiệm vàng (T không nhớ địa chỉ tiệm vàng) được 5.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Riêng cây tuộc nơ vít, trên đường tẩu thoát đến đoạn cầu R, xã P, huyện N thì T đã vứt bỏ, không xác định được vị trí cụ thể.
Sáng ngày 29/7/2024, Phạm Đặng Minh T điều khiến xe mô tô Honda Wave, màu xanh - tím, biển số: 54Z5 - 9906 chạy rảo quanh các tuyến đường từ Quận G sang huyện N tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, T chạy xe đến trước nhà số A đường L, Ấp B, xã P, huyện N nhìn thấy cửa nhà đang mở nên T dừng và đậu xe phía trước rồi đi vào bên trong tìm tài sản. Khi vào đến phòng trọ số 8, thấy cửa phòng đang mở, không có người coi nhà và trên bàn có 01 cái túi xách (của bà Nguyễn Thị Ngọc Á) do đó T lấy trộm chiếc túi xách rồi đi ra khỏi nhà trọ, khởi động máy xe tẩu thoát đến ngã ba đường H - H thuộc khu dân cư T - Bộ Q, Ấp B, xã P, huyện N thì T dừng xe lại để kiểm tra tài sản trộm cắp được bên trong giỏ xách. T phát hiện trong túi đeo chéo có ví da, trong ví da có 6.400.000 đồng; 01 Căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng B và 01 đăng ký xe do người phụ nữ đứng tên nhưng T không để ý tên là gì, T lấy 6.400.000 đồng bỏ vào túi quần, còn các giấy tờ, ví da T bỏ lại vào trong túi xách vứt xuống bãi cỏ cạnh bên rồi điều khiển xe tẩu thoát về hướng Quận G. Số tiền trộm cắp được T đã tiêu xài cá nhân hết.
Bà Phạm Thị Xuân L1 đã đến Công an xã L và bà Nguyễn Thị Ngọc Á đã đến Công an xã P trình báo. Công an xã L, Công an xã P, huyện N lập hồ sơ ban đầu rồi chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Phạm Đặng Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 95/KL-HĐĐGTTHS ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N, kết luận: 01 túi xách, dạng túi đeo chéo bằng vải màu hồng, không nhãn hiệu; 01 ví da cầm tay màu xanh, không nhãn hiệu, không đủ điều kiện cần thiết để định giá (không nhãn hiệu, hóa đơn chứng từ).
Tại Kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTTHS ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 2,5 chỉ được mua mới vào năm 2012, thời điểm định giá có giá trị là 13.195.250 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Đặng Minh T về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số 29/CT-VKS-NB ngày 04 tháng 4 năm 2025 và sau khi phân tích, luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt Phạm Đặng Minh T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt Phạm Đặng Minh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phạm Đặng Minh T phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là từ 08 năm đến 09 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh - tím, gắn biển số: 54Z5 - 9906 là phương tiện T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, đã được Tòa án nhân dân Quận 4 xử lý tại Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 14/5/2025 nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- 01 USB, nhãn hiệu Kingston, có 02 clip chứa dữ liệu ghi nhận đối tượng T thực hiện hành vi cướp tài sản được trích xuất từ camera nhà số B, Ấp D, xã L, huyện N là vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
- 01 USB, nhãn hiệu DT101G2, có 03 clip chứa dữ liệu ghi lại hình ảnh đối tượng T tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại phòng trọ số H, nhà số A đường L, Ấp B, xã P, huyện N, được trích xuất từ camera nhà số A đường L, Ấp B, xã P, huyện N là vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
- Người bị hại bà Phạm Thị Xuân L1 yêu cầu bị cáo T phải bồi thường 13.195.250 đồng là giá trị sợi dây chuyền bị T cướp là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T phải bồi thường cho bà Phạm Thị Xuân L1 13.195.250 đồng.
- Trong quá trình chuẩn bị xét xử người bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc Á rút yêu cầu buộc bị cáo T phải bồi thường 6.400.000 đồng là số tiền bị cáo trộm cắp của bà Nguyễn Thị Ngọc Á nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đặng Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đều đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện N, Cơ quan cảnh sát Điều tra công an Thành phố H và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố; bị cáo, bị hại cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đặng Minh T đã thừa nhận vì cần tiền mua ma túy sử dụng nên:
- Vào ngày 11/6/2024, tại nhà số B, Ấp D, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, chính bị cáo đã sử dụng 01 chiếc tuốc nơ vít bằng kim loại dài khoảng 20cm đe dọa bà Phạm Thị Xuân L1 để cướp 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 2,5 chỉ của bà Phạm Thị Xuân L1 có giá trị 13.195.250 đồng.
- Vào ngày 29/7/2024, tại phòng trọ số H, nhà số A đường L, Ấp B, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, chính bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 6.400.000 đồng tiền mặt; 01 túi xách dạng túi đeo chéo bằng vải màu hồng, không nhãn hiệu; 01 ví da cầm tay màu xanh, không nhãn hiệu của bà Nguyễn Thị Ngọc Á.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của chính bị cáo, lời khai của người bị hại tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi mà bị cáo Phạm Đặng Minh T đã thực hiện đã phạm vào tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điều 168 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo Phạm Đặng Minh T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ khả năng nhận thức nhưng vì hám lợi, không làm chủ được bản thân và đặc biệt là xem thường pháp luật nên bị cáo
vẫn cố ý phạm tội như đã nêu trên. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Sau khi thực hiện hành vi cướp tài sản và trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện N, T còn thực hiện hành vi cướp giật tài sản và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại địa bàn Quận D. Ngày 14/5/2025, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 11 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bản án số 48/2025/HS-ST.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, để răn đe riêng và phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên: Xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Điều 168 và Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, cũng không có tài sản và tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát cũng không đề nghị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh - tím, gắn biển số: 54Z5 - 9906 là phương tiện T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, đã được Tòa án nhân dân Quận 4 xử lý tại Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 14/5/2025 nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- 01 USB, nhãn hiệu Kingston, có 02 clip chứa dữ liệu ghi nhận đối tượng T thực hiện hành vi cướp tài sản được trích xuất từ camera nhà số B, Ấp D, xã L, huyện N là vật chứng của vụ án, xét tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
- 01 USB, nhãn hiệu DT101G2, có 03 clip chứa dữ liệu ghi lại hình ảnh đối tượng T tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại phòng trọ số H, nhà số A đường L, Ấp B, xã P, huyện N, được trích xuất từ camera nhà số A đường L, Ấp B, xã P, huyện N là vật chứng của vụ án, xét tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Người bị hại là bà Phạm Thị Xuân L1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường 13.195.250 đồng là giá trị sợi dây chuyền bị cáo đã chiếm đoạt là có căn cứ, xét buộc bị cáo T phải bồi thường cho bà Phạm Thị Xuân L1 13.195.250 đồng.
- Trong quá trình chuẩn bị xét xử người bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc Á rút yêu cầu buộc bị cáo T phải bồi thường 6.400.000 đồng là số tiền bị cáo trộm cắp của bà Nguyễn Thị Ngọc Á nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 659.763 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Đặng Minh T phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Phạm Đặng Minh T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Phạm Đặng Minh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2024.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phạm Đặng Minh T phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2024.
- Căn cứ các Điều 584, 585, 586 của Bộ luật dân sự;
Buộc Phạm Đặng Minh T phải bồi thường cho bà Phạm Thị Xuân L1 13.195.250 đồng. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà Phạm Đặng Minh T chậm thi hành khoản tiền bồi thường nêu trên thì Phạm Đặng Minh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải bồi thường theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB, nhãn hiệu Kingston và 01 USB, nhãn hiệu DT101G2.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 659.763 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Long |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: cướp tài sản và trộm cắp tài sản
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cướp tài sản và Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đặng Minh Tiến phạm tội " Cướp tài sản" và "Trộm cắp tài sản"
