|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 14-4-2025. “Về việc: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Thanh và bà Bùi Thị Luyến.
Thư ký phiên tòa: bà Biện Thị Uyển Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 512/2024/TLST–HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2015/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Nguyễn Trọng L, sinh năm 1983; Nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt, đã có đơn xét xử vắng mặt.
Bị đơn: chị Vũ Thị T, sinh năm 1992; Nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Nguyên đơn anh Nguyễn Trọng L trình bày yêu cầu và căn cứ khởi kiện như sau:
Anh L và chị Vũ Thị T tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại UBND thị trấn L vào năm 2020. Sau khi kết hôn, do tính chất công việc nên giữa anh L và chị T mỗi người làm việc ở một nơi khác nhau; quá trình chung sống thời gian đầu sống có hạnh phúc, đến năm 2022 thì thường xuyên mâu thuẫn về công việc, tiền bạc, làm ăn thua lỗ. Đến tháng 5/2023 chị T và anh L sống ly thân, ít khi gặp gỡ để nói chuyện, hòa giải đoàn tụ. Nay anh L xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên yêu cầu ly hôn. Trong thời gian chung sống, anh L và chị T không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung anh L không yêu cầu giải quyết.
[2]. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn chị Vũ Thị T không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của chị T và cũng không tiến hành hòa giải được.
[3]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng L; xử cho anh L được ly hôn với chị Vũ Thị T; buộc anh L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Trọng L vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Vũ Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[1.2]. Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Trọng L, yêu cầu giải quyết ly hôn với chị Vũ Thị T; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự; nên quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Đối với yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Trọng L đối với chị Vũ Thị T:
Anh Nguyễn Trọng L và chị Vũ Thị T tự nguyện kết hôn, có đăng ký và được UBND thị trấn L cấp giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 14/01/2020, nên quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị T là hợp pháp. Vì vậy, anh L có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn anh Nguyễn Trọng L khai về quá trình hôn nhân với chị Vũ Thị T chung sống với nhau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về lối sống, công việc, nơi sinh sống, từ đó vợ chồng thiếu sự quan tâm, yêu thương, chia sẽ, chăm sóc lẫn nhau. Do mâu thuẫn, nên anh L và chị T đã sống ly thân từ năm tháng 5/2023 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc, không còn tình nghĩa vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, chị T không đến Tòa án trình bày ý kiến, tình trạng hôn nhân và yêu cầu trong vụ án. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh L không có nguyện vọng đoàn tụ, còn chị T vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.
Xét: Hôn nhân giữa anh L và chị T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thể hiện ở việc giữa vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, đã sống ly thân. Vì vậy, việc ly hôn theo yêu cầu của anh L đối với chị T là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.2]. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: anh L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
[3]. Về án phí: anh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 điều 147, các Điều 227, 228, 238, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng L: anh Nguyễn Trọng L được ly hôn với chị Vũ Thị T.
[2]. Về án phí: anh Nguyễn Trọng L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006442 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, anh L đã nộp đủ án phí.
[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tân |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn tranh chấp nuôi con
