|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HS-PT Ngày: 10/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu;
Các Thẩm phán: Ông Lâm Tấn Vinh;
Ông Nguyễn Hoàng Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.
Ngày 10/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLPT-HS ngày 06/02/2025 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn T; Sinh ngày: 01/01/1991; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C và bà Huỳnh Thị N; Có vợ là bà Nguyễn Thị Huyền T1, sinh năm 1997 và 01 người con, sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 61 ngày 18/9/2013 và Quyết định khởi tố bị can số 99 ngày 18/9/2013 về hành vi “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 17/12/2013, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra quyết định đình chỉ điều tra bị can số 01 ngày 17/12/2013 do bị hại làm đơn bãi nại và rút đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Trần Văn T; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/9/2024 cho đến nay. (có mặt)
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại Trần Văn Đ; Người làm chứng Lê Thanh T2, Lê Thị Thu T3, Trần Thị T4, Hoa Thanh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước, nên sau khi uống rượu xong thì khoảng 18 giờ ngày 07/7/2024, bị cáo Trần Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 55Y-0555 đi đến nhà ông Trần Văn Đ, khi đến trước của nhà ông Đ thì bị cáo thấy ông Đ đang ngồi uống rượu ở hành lang bên trái trước cửa nhà sau cùng với anh H Thanh Liêm nên T đậu xe mô tô trên lộ đất và mở cốp xe mô tô lấy cây dao có chiều dài 22 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng mũi dao nhọn, lưỡi dao có một bề sắc bén, chiều dài lưỡi dao là 11 cm, cán dao bằng gỗ có chiều dài 11 cm, (loại dao thái lan) T cầm dao đi vào chỗ ông Đ. Do thấy T cầm dao trên tay đi ngang qua hành lang nên bà T3 la lên “thằng T nó đâm ông kìa ông Đ ơi”. Ông Đặng N1 bà T3 la lên thì nhìn ra hướng trước nhà nhìn thấy T cầm dao đi đến cách chỗ ông T ngồi khoảng 03 mét. Lúc này, T vừa nói “bữa nay tao đâm chết mẹ mày” và vừa cầm dao bên tay trái chạy đến chỗ ông Đặng N2, ông Đặng thấy T5 chạy đến thì đứng dậy dùng hai tay cầm cái ghế nhựa của ông Đ đang ngồi để đứng lên, T5 chạy đến dùng cây dao cầm bên tay trái đâm nhiều cái về hướng ông Đ, ông Đ thì dùng hai tay đưa cái ghế quơ qua lại để đỡ. Ông Đ vừa cầm ghế đưa lên đỡ vừa đi lùi để không cho T5 đâm trúng. Khi ông Đ đi lùi đến cửa nhà sau thì bị T5 dùng dao đâm trúng vào cẳng tay phải của ông Đặng M cái và đâm trúng vào vai phải của ông Đặng M cái gây thương tích, T5 tiếp tục dùng tay đánh trúng vào trán bên phải của ông Đ gây sưng, bầm. Lúc này con gái ông Đặng tên T6 từ trong nhà chạy đến chỗ ông Đ và đưa cho ông Đặng M khúc gỗ rắn, chắc, có chiều dài 82 cm, đường hoành 09 cm. Nhìn thấy ông Đ cầm khúc gỗ nên T5 bỏ đi ra chỗ đậu xe và để cây dao vừa gây thương tích cho ông Đặng V trong cốp xe và điều khiển xe đi về nhà, còn ông Đ được gia đình đưa đến Bệnh viện Q tại thành phố Cần Thơ điều trị thương tích. Tại cơ quan điều tra T5 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 370/KLTTCT-TTPYST ngày 31/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận: Căn cứ vào Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Trần Văn Đ tại thời điểm giám định là 26%.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- - Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.
- - Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại.
- * Ngày 08/01/2025, bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin giảm hình phạt.
- * Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo Trần Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt.
- - Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có căn cứ. Đồng thời, cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định pháp luật. Xét cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T mức án 03 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mà lẽ ra bị cáo được áp dụng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 08/01/2025 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo T về việc xin giảm hình phạt theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T như sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 07/7/2024, do có mâu thuẫn từ trước, bị cáo Trần Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 55Y-0555 đi đến nhà ông Trần Văn Đ, khi đến trước của nhà ông Đ, T đậu xe mô tô trên lộ đất và mở cốp xe mô tô lấy cây dao có chiều dài 22 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng mũi dao nhọn, lưỡi dao có một bề sắc bén, chiều dài lưỡi dao là 11 cm, cán dao bằng gỗ có chiều dài 11 cm, (loại dao thái lan) và dùng tay trái đâm nhiều cái về hướng ông Đ, T đâm trúng vào cẳng tay phải của ông Đặng M cái và đâm trúng vào vai phải của ông Đặng một C1, sau đó T tiếp tục dùng tay đánh trúng vào trán bên phải của ông Đ gây sưng, bầm. Theo kết luận giám định, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại Trần Văn Đ do thương tích gây nên là 26%. Xét hung khí mà bị cáo Trần Văn T dùng để gây thương tích cho bị hại Trần Văn Đ là cây dao có lưỡi dao bằng kim loại sắc-bén là loại hung khí nguy hiểm. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, về việc xin giảm hình phạt Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo là người đang trực tiếp nuôi con nhỏ sinh năm 2016. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị khởi tố về hành vi Cố ý gây thương tích nhưng đã đình chỉ điều tra do bị cáo được bị hại bãi nại và rút yêu cầu xử lý hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, cụ thể là gây thương tích cho bị hại Đ. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không bổ sung được tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo còn tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật Hình sự mà lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải áp dụng cho bị cáo nhưng chưa áp dụng cho bị cáo. Từ đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo T mức án 03 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo T.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, về việc xin giảm hình phạt.
Giữ nguyên quyết định về hình sự đối với bị cáo Trần Văn T của Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Xử buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hữu |
Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 34/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T
