Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày: 03-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Dũng;

Ông Huỳnh Thanh Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST–HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Xuân H, sinh năm 1985 tại Bình Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố H, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Xuân N và bà Trần Thị M; có vợ tên Hồ Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến ngày 29/11/2024 thay đổi bằng biện pháp bảo lĩnh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2013, Phạm Xuân H tham gia thi sát hạch lái xe hạng A1 tại 01 Trung tâm sát hạch lái xe (không nhớ tên, địa chỉ cụ thể) ở tỉnh Quảng Ngãi nhưng không đạt. Lúc này, có 01 người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) đến gặp H rồi giới thiệu về dịch vụ làm giấy phép lái xe hạng A1 giả với số tiền 1.000.000 đồng. H đồng ý, H đưa giấy chứng minh nhân dân (bản gốc) của bản thân cho người phụ nữ trên đồng thời cung cấp thông tin cá nhân và hình ảnh của H để làm 01 giấy phép lái xe hạng A1 giả. Khoảng 01 tuần sau, H được 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) gọi điện cho H để hẹn gặp giao cho H 01 giấy phép lái xe (PET) số [...], hạng A1, họ và tên “Phạm Xuân H", sinh năm 1985, nơi cư trú: TT. T, H. H, T. B, do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 28/10/201? (dấu “?” là số không đọc được) và trả lại giấy chứng minh nhân dân (bản gốc) cho H. H nhận 01 giấy phép lái xe hạng A1 giả nêu trên và trả tiền mặt cho người đàn ông trên với số tiền 1.000.000 đồng.

Đến khoảng 21 giờ 20 phút ngày 16/02/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 54S3-3901 chở theo 02 người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) đi trên tuyến đường D thuộc khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương thì bị Tổ tuần tra kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông Công an huyện B dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra H bị lực lượng tuần tra giao thông lập biên bản xử phạt hành chính về hành vi điều khiển xe mô tô có nồng độ cồn vượt quá 0,25 mg đến 0,4 mg/lít khí thở và chở theo 02 người trên xe nên H xuất trình 01 giấy phép lái xe (PET) số [...], hạng A1, họ và tên “Phạm Xuân H”, sinh năm 1985, nơi cư trú: TT. T, H. H, T. B, do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 28/10/201? theo quy định. Qua kiểm tra giấy phép lái xe hạng A1 trên bị nghi ngờ là giả nên Đ – Trật tự Công an huyện B tiếp tục bị tạm giữ để phục vụ công tác giám định.

Theo bản kết luận giám định số 1178/KL-KTHS(TL) ngày 13/03/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B như sau: 01 giấy phép lái xe (PET) số [...], hạng A1, họ và tên “Phạm Xuân H”, sinh năm 1985, nơi cư trú: TT. T, H. H, T. B, đề ngày 28/10/201? (ký hiệu từ A, dấu “?” là số không đọc được) là giả.

Qua giám định, xác định giấy phép lái xe hạng A1 trên là giả. Ngày 11/6/2024, Đ – Trật tự Công an huyện B đã chuyển hồ sơ cùng tang vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Qua làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã thừa nhận toàn bộ hành vi nêu trên.

Qua xác minh đối với xe mô tô biển số 54S3-3901 chủ sở hữu là ông Nguyễn Đình V. Ngày 07/8/2020 ông V đã bán xe mô tô nói trên cho Cửa hàng X ở Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 23/8/2020 H mua lại 01 xe mô tô nói trên ở Cửa hàng X với giá 10.100.000 đồng nhưng chưa sang tên đổi chủ. Đây là tài sản hợp pháp của H nên ngày 11/4/2024 sau khi chấp hành xong Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 4.850.000 đồng thì Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện B đã trả lại cho H.

Đối với 01 giấy phép lái xe (PET) số [...], hạng A1, họ và tên “Phạm Xuân H”, sinh năm 1985, nơi cư trú: TT. T, H. H, T. B, đề ngày 28/10/201? thu giữ của Phạm Xuân H. Đây là tài liệu chứng cứ của vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đưa vào hồ sơ.

Cáo trạng số 03/CT–VKSBB ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Phạm Xuân H về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, các phần khác vẫn giữ nguyên. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Về hình phạt:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng.

- Về biện pháp tư pháp: Không đề nghị xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hanh vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Vào năm 2013, Phạm Xuân H đặt mua 01 giấy phép lái xe (PET) số [...], hạng A1, họ và tên “Phạm Xuân H”, sinh năm 1985, nơi cư trú: TT. T, H. H, T. B, do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 28/10/201? của đối tượng (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng. Ngày 16/02/2024, H điều khiển xe mô tô biển số 54S3-3901 thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông huyện B tuần tra lập biên bản vi phạm yêu cầu xuất trình giấy tờ. H sử dụng giấy phép lái xe giả để đưa cho lực lượng tuần tra. Qua giám định xác định giấy phép lái xe trên của H là giả. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Như đã nhận định, hành vi của bị cáo chỉ cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự và không làm thay đổi điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố. Vì vậy căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo. Từ đó, giúp bị cáo nhận thấy được sự khoan hồng của pháp luật, tự khắc phục lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng là có căn cứ chấp nhận một phần.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 298, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Xuân H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức")

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức")
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger