|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HS-ST
Ngày: 02/4/2025
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại Minh và ông Huỳnh Khắc Hiếu
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hữu – Kiểm sát viên.
Vào ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Minh T; Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 13 tháng 10 năm 1995 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Tổ A khu phố C, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12. Họ tên cha: Phạm Minh Đ, sinh năm 1959. Họ tên mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1962. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 20/01/2025, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ khởi tố bị can về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy đá, khoảng 19 giờ ngày 25/9/2024, bị cáo Phạm Minh T sử dụng điện thoại di động liên hệ người phụ nữ không rõ lai lịch đặt nửa hộp 5 ma túy đá với giá 1.200.000 đồng hẹn giao ma túy tại thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Bị cáo T đến địa điểm hẹn giao ma túy gặp nam thanh niên không xác định lai lịch đưa cho T 01 bì ma túy đá. T đưa trước 500.000 đồng còn nợ lại 700.000 đồng. Khoảng 20 giờ ngày 25/9/2024, T điều khiển xe trên đường L thuộc phường E, thành phố T thì bị Tổ tuần tra Công an tỉnh P kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải của T có 01 bì nylon trong suốt, hàn kín, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng. T khai nhận các hạt tinh thể màu trắng bên trong là ma túy mua về để sử dụng.
Kết luận giám định số 424/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Tinh thể mà u trắng trong bì nylon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,108 gam.
Tại Bản cáo trạng số 26/CT-VKSTH ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, khẳng định không bị oan và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo khẳng định số ma túy mà Tổ tuần tra Công an tỉnh P phát hiện là ma túy của bị cáo vừa mua để sử dụng dần. Bị cáo thống nhất với Kết luận giám định số 424/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh P. Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu bà Trần Thị T1 bị cáo thống nhất, không có ý kiến gì.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Phạt: Bị cáo Phạm Minh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- * Tịch thu tiêu hủy: A₁=2,066g Methamphetamine còn lại sau giám định đã được niêm phong theo Kết luận giám định số:424/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh P; 01 (một) quần Short Jeans màu đen (đã được niêm phong); 01 (một) chai nhựa trong suốt cao 19,5cm, đường kính 05cm, nắp nhựa màu trắng đường kính 2,5cm, trên nắp có đục 02 lỗ (đã được niêm phong); 01 (một) ống thủy tinh trong suốt dài 13,5cm có một đầu hình cầu được uốn cong (đã được niêm phong) và 01 (một) quẹt ga màu xanh dương (đã được niêm phong)
- * Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, mặt lưng màu trắng có vết nứt (đã được niêm phong)
- * Trả lại cho bị cáo T 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Minh T.
- * Tiếp tục tạm giữ 01 (một) tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng (T2) của bị cáo T để bảo đảm thi hành án phí hình sự.
- Về án phí: Bị cáo T phải chịu theo pháp luật.
- - Bị cáo thống nhất với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận. Nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do muốn có ma túy để sử dụng nên vào lúc khoảng 19 giờ ngày 25/9/2024, Phạm Minh T dùng 500.000 đồng mua ma túy của đối tượng không rõ nhân thân tại khu vực thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên rồi cất giấu trong túi quần. Khoảng 20 giờ ngày 25/9/2024, T điều khiển xe trên đường L thuộc phường E, thành phố T thì bị Tổ tuần tra Công an tỉnh P kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng là 2,108 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của Phạm Minh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 26/CT-VKSTH ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước; là tiền đề, hệ quả tất yếu của việc mua, bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gây ra những tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe, kinh tế và nhân cách con người; là nguyên nhân, mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác nên đối với loại tội phạm này cần được phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm nhằm đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong tình hình hiện nay.
[4] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo T có nhân thân xấu (Ngày 20/01/2025, bị Cơ quan cảnh điều tra Công an huyện Đ khởi tố bị can về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự); quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc xử lý vật chứng như đề xuất hướng giải quyết của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với các đối tượng đã bán ma túy cho T do không xác định được lai lịch nhân thân nên không có căn cứ để xử lý là có cơ sở.
[8] Đối với bà Trần Thị T1 chủ sở hữu xe mô tô không biết T sử dụng xe đi mua ma túy nên không xem xét trách nhiệm hình sự và trả xe lại cho chủ sở hữu là có cơ sở.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Phạt: Bị cáo Phạm Minh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 25/9/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); Khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xử:
- * Tịch thu tiêu hủy: A₁=2,066g Methamphetamine còn lại sau giám định đã được niêm phong theo Kết luận giám định số:424/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh P; 01 (một) quần Short Jeans màu đen (đã được niêm phong); 01 (một) chai nhựa trong suốt cao 19,5cm, đường kính 05cm, nắp nhựa màu trắng đường kính 2,5cm, trên nắp có đục 02 lỗ (đã được niêm phong); 01 (một) ống thủy tinh trong suốt dài 13,5cm có một đầu hình cầu được uốn cong (đã được niêm phong) và 01 (một) quẹt ga màu xanh dương (đã được niêm phong)
- * Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, mặt lưng màu trắng có vết nứt (đã được niêm phong)
- * Trả lại cho bị cáo T 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Minh T.
- * Tiếp tục tạm giữ 01 (một) tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng (T2) của bị cáo T để bảo đảm thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Phạm Minh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tâm |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh Toàn phạm tội "Tàng trữ trái phép ma túy"
