Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST
Ngày 27 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Phương Quyền

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Võ Lâm Sơn – Giáo viên Trường trung cấp kỹ thuật công nghệ An Giang.

Ông Đặng Văn Tâm – Chủ tịch Hội luật gia huyện Chợ Mới.

Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Trong Khiêm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 16/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/HSST-Qd ngày 07 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Chí T, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2006, tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị B; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Chợ M (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Các ông Nguyễn Quốc A, Giảng Hùng C đều là Luật sư Công ty L; địa chỉ liên hệ: Khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang(có mặt).

Bị hại: Nguyễn Minh T1, sinh ngày 04/01/2012; trú tại: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1990; bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1992; cùng địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. (là cha, mẹ ruột của cháu T1, có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Minh T2, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; địa chỉ: số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng:

  • - Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị Kim N1, Nguyễn Hữu N2 (có mặt).
  • - Nguyễn Thị Như Ý, Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Q (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Chí T, sinh ngày 26/6/2006, ngụ ấp L, xã L và Nguyễn Minh T1, snh ngày 04/01/2012, ngụ ấp L, xã L, huyện C quen biết nhau qua kết bạn Facebook rồi nảy sinh tình cảm. Khoảng 20 giờ ngày 25/9/2024, T1 nhắn tin rủ T đi nhậu, T đồng ý và chạy xe đến rước T1 về nhà T. Sau đó, T rủ Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 30/6/2009 (bà con với T, nhà ở cạnh nhà T) đến nhà Nguyễn Hữu N2, sinh ngày 18/3/2007 (em bà con với T) nhà ở ấp L, xã L để nhậu, thì N1 đồng ý. T chở T1, N1 đến nhà N2 nhậu đến khoảng 23 thì nghỉ. Sau đó, cả nhóm đến khu vực bờ kè Dinh ông Nguyễn Hữu C1 ở ấp P, xã K tiếp tục nhậu đến khoảng 02 giờ ngày 26/9/2024, thì cả nhóm về nhà T. Khi này, T đòi đưa T1 về nhà nhưng do trời khuya sợ bị gia đình la nên T1 không chịu về thì T kêu T1 qua ngủ với N1 còn T, N2 đi vào nhà T nhưng T1 không chịu ngủ ở nhà N1 mà đi qua nhà T; khi đó, T và T1 vào phòng của T ngủ còn N2 ngủ phòng bên cạnh. Tại phòng ngủ của T, T1 và T tự nguyện giao cấu với nhau một lần. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T đưa T1 về nhà thì gia đình gặn hỏi, T1 cho biết đã giao cấu với T 01 lần nên làm đơn trình báo Công an xã L. Ngày 01/10/2024, T đến Công an xã L đầu thú và khai nhận hành vi giao cấu với T1.

Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 655/24/KLTDTE-TTPY ngày 04/10/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh A, đối với Nguyễn Minh T1: Các kết quả chính: Màng trinh rách mới vị trí 07 giờ, còn sưng đỏ. Hiện tại chưa ghi nhận bất thường trên hình ảnh siêu âm. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại 00%.

Phiếu xét nghiệm nước tiểu ngày 05/12/2024 của Trung tâm Y tế huyện C, đối với Nguyễn Minh T1, kết quả: HCG (âm tính). Phiếu siêu âm ngày 05/12/2024 của Trung tâm Y tế huyện C, đối với Nguyễn Minh T1, kết luận: Chưa phát hiện bất thường trên siêu âm. Kết quả xét nghiệm kháng thể kháng HIV ngày 26/12/2024 của Trung tâm Y tế huyện C, đối với Nguyễn Văn Chí T, kết luận: Âm tính.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo T phải bồi thường tổn thất về danh dự, nhân phẩm cho cháu T1 80.000.000đ. Bà B (là mẹ của bị cáo T) đã thỏa thuận và bồi thường xong cho cháu T1 số tiền 55.000.000 đồng và nay không yêu cầu bị cáo T phải bồi hoàn.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Chí T, bị hại Nguyễn Minh T1, người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Ngọc N, người làm chứng là ông/bà: Nguyễn Thị B; Nguyễn Thị Như Ý; Nguyễn Thị Thúy H; Nguyễn Thị Q; Nguyễn Thị Kim N1; Nguyễn Hữu N2 khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H1 Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKSCM ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Văn Chí T về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn Chí T vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đối với phần trách nhiệm dân sự gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại T1 số tiền 55.000.000đ.

Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Còn về phần trách nhiệm dân sự, gia đình bị hại đã nhận số tiền 55.000.000đ, do gia đình bị cáo bồi thường nên không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Bà Trần Thị B2 (mẹ bị cáo T) xác nhận đã bồi thường xong cho bị hại với số tiền là 55.000.000đ. Nay bà B2 không yêu cầu bị cáo T phải bồi hoàn.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Chí T từ 07 đến 08 năm tù. Về dân sự: gia đình bị hại đã nhận số tiền 55.000.000đ, do gia đình bị cáo bồi thường và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị không xét đến.

Người bào chữa của bị cáo đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Nguyễn Văn Chí T về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giảm nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo Nguyễn Văn Chí T nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án và quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa người làm chứng là Nguyễn Thị Như Ý, Nguyễn Thị Thúy H vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 02 giờ 30 phút đến 04 giờ ngày 26/9/2024, tại nhà bị cáo T thuộc thuộc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Văn Chí T đã có hành vi lợi dụng sự chưa chính chắn về nhận thức trong về chuyển tình cảm để giao cấu với cháu Nguyễn Minh T1 01 lần. Khi thực hiện hành vi cháu T1 là người dưới 13 tuổi (tính đến ngày 26/9/2024 mới 12 tuổi 08 tháng; tính đến ngày 27/3/2025 mới 13 tuổi 02 tháng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn C2 T đã phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm (tội phạm rất nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo vệ thân thể, danh dự, nhân phẩm của trẻ em, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Văn Chí T là người có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là để thỏa mãn dục vọng cá nhân thấp hèn; bị cáo biết rõ bị hại dưới 16 tuổi nhưng vẫn lợi dụng sự chưa chính chắn trong nhận thức về tình cảm để thực hiện hành vi giao cấu với bị hại.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại; sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tuy nhiên, hậu quả mà tội phạm gây ra là rất nghiêm trọng, hiện các tội phạm xâm phạm về tình dục đối với trẻ em trên địa bàn đang có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 142 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự đã thỏa bồi thường xong về dân sự và tại phiên tòa bị hại, đại diện hợp pháp chi bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xét đến.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Chí T phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 142; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Chí T 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/10/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Chí T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Phương Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG về hiếp dâm người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Chi T bị truy tố về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định điểm b khoản 1 Điều 142 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger