Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ Q

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày: 26-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng.
  2. Bà Lê Thị Hồng Trinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quốc Trạng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thương Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLST-HS ngày 18/01/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 05/3/2025 đối với:

Bị cáo Ngô Quốc V, sinh ngày: 01/01/1991 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở hiện nay: Tổ E, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô B, sinh năm 1960 và bà Phan Thị N, sinh năm 1960; vợ, con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 25/07/2006, bị Công an huyện M, tỉnh Quảng Ngãi bắt đưa đi cơ sở giáo dục tại Trường G tại thành phố Đà Nẵng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 25/04/2008 chấp hành xong.

- Ngày 17/9/2015, bị Toà án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “ Trộm cắp tài sản”, ngày 20/11/2016 đã chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm trong quá trình chấp hành án phạt tù.

- Ngày 27/02/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Q xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành án xong ngày 08/11/2019 và chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/8/2018.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 2004, cư trú tại: Số B đường N, tổ C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Ngô B, sinh năm 1960, cư trú tại: Thôn C, xã Đ, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Quốc V là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy. Thông qua mối quan hệ quen biết ngoài xã hội, V biết đối tượng tên “T” (Không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực chợ đầu mối tỉnh Quảng Ngãi (thuộc phường N, thành phố Q) có bán ma tuý “đá”.

Khoảng tháng 05/2024, V và Nguyễn Thị Thúy L có quan hệ tình cảm. Đến cuối tháng 05/2024, V thuê phòng trọ số 03 (ở hẻm S, đường L, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) thuộc dãy nhà cho thuê trọ của bà Nguyễn Vân K để sinh sống cùng với L.

Khoảng 15 giờ 00, ngày 14/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, V điều khiển xe mô tô biển số 76AF- 061.77 đi từ phòng trọ của mình đến khu vực chợ Đ tỉnh Quảng Ngãi tìm gặp đối tượng tên “T” để hỏi mua ma túy. Sau khi gặp được đối tượng “Tý”, V mua 01 túi ma túy “đá” và 01 túi ma túy “khay” của đối tượng “Tý” với giá tiền 4.500.000 đồng. Sau đó, V lấy một ít ma túy “đá” mang về phòng trọ số 03 để sử dụng và số ma tuý còn lại V cất giấu trong bụi cây trên đường gần núi T (thuộc phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) với mục đích sử dụng lần sau.

Khoảng 12 giờ 00 ngày 18/10/2024, sau khi sử dụng hết số ma túy đem về, V tiếp tục đi đến bụi cây và lấy số ma túy cất giấu trước đó đem về phòng trọ số 03. Tại phòng trọ, V chia nhỏ túi ma túy “đá” thành 08 túi ma tuý “đá” và 07 túi ma tuý “khay” (lúc này L đang nằm ngủ trong phòng trọ nên không biết việc V phân chia ma túy). Sau đó, V cất giấu 07 túi ma túy “khay” và 04 túi ma túy “đá” vào 01 hộp giấy màu trắng, dạng hình hộp chữ nhật, trên hộp có ghi chữ “Galaxy A15” rồi để dưới tủ đồ gần phòng bếp; 04 túi ma túy “đá” vào 01 mũ bảo hiểm màu trắng, treo trên kệ để dép với mục đích sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, V đang dắt xe mô tô biển số 76AF- 061.77 đi từ phòng trọ số 03 ra ngoài thì bị Công an tỉnh kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong mũ bảo hiểm màu trắng của V treo trên kệ để dép có 01 túi ni lông màu trắng, viền đỏ, bên ngoài quấn sợi dây thun màu vàng, bên trong chứa chất rắn màu trắng; 03 túi ni lông màu trắng, viền đỏ, bên ngoài quấn sợi dây thun màu vàng, bên trong mỗi túi đều chứa chất rắn màu trắng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Quốc V về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tạm giữ và niêm phong chất nghi là ma túy của V và các đồ vật, tài sản có liên quan.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Quốc V tại phòng trọ số C, hẻm B đường L (thuộc Tổ E, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi); Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q phát hiện, thu giữ: 01 hộp giấy màu trắng, dạng hình hộp chữ nhật, trên hộp có ghi chữ “Galaxy A15”, bên trong chứa: 01 túi ni lông màu trắng, viền đỏ bên trong chứa 04 túi ni lông màu trắng viền đỏ, bên ngoài quấn dây thun màu vàng, bên trong mỗi túi đều chứa chất rắn màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng viền đỏ chứa 01 túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong chứa 07 túi ni lông màu trắng viền đỏ chứa chất rắn màu trắng và một số đồ vật có liên quan.

* Tại Kết luận giám định ma túy số 1069/KL-KTHS, ngày 23/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận giám định chất nghi là ma túy thu giữ của Ngô Quốc V:

  • - Chất rắn màu trắng, bên trong 01 túi ni lông màu trắng, viền đỏ, bên ngoài quần sợi dây thun màu vàng trong túi niêm phong mã số PS3 23043191 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng mẫu là 2,59 gam.
  • - Chất rắn màu trắng, bên trong 03 túi ni lông màu trắng, viền đỏ, bên ngoài quấn sợi dây thun màu vàng trong túi niêm phong mã số PS3 23043191 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng mẫu là 6,62 gam.
  • - Chất rắn màu trắng, bên trong 04 túi ni lông màu trắng, viền đỏ, bên ngoài quấn sợi dây thun màu vàng trong túi niêm phong mã số PS3 23043172 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng mẫu là 9,97 gam.
  • - Chất rắn màu trắng, bên trong 07 túi ni lông màu trắng, viền đỏ trong túi niêm phong mã số PS3 23043172 gửi giám định là ma túy; loại: Ketamine; khối lượng mẫu là 7,76 gam.

Tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp của bị cáo Ngô Quốc V là: 19,18 gam Methamphetamine; 7,76 gam Ketamine.

* Tại Kết luận giám định dữ liệu điện tử 1130/KL-KTHS, ngày 25/11/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Q kết luận giám định dữ liệu điện tử đối với 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo Ngô Quốc V:

  • - 01 điện thoại di động iPhone 12 Pro Max, màu xanh, số seri: F2LFVP4W0D42: Trích xuất được dữ liệu 31 tên và số điện thoại được lưu trong danh bạ điện thoại; 07 cuộc gọi nhỡ, 02 tin nhắn đi; không có dữ liệu cuộc gọi đi, cuộc gọi đến và tin nhắn đến; trích xuất được dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn trên ứng dụng Zalo với 03 tài khoản; không có dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn trên ứng dụng Messenger.
  • - 01 điện thoại di động R 10 Pro, màu đen: Trích xuất được dữ liệu 20 tên và số điện thoại được lưu trong danh bạ điện thoại; 54 cuộc gọi đi, 19 cuộc gọi đến, 38 cuộc gọi nhỡ; không có dữ liệu tin nhắn đi và tin nhắn đến; trích xuất được dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn trên ứng dụng Messenger với 02 tài khoản; không có dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn trên ứng dụng Zalo.

Cáo trạng số 29/CT-VKS-TPQN ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Ngô Quốc V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; qua xét hỏi bị cáo đã thi hành xong phí hình sự sơ thẩm tại bản án hình sự số 246/HS-ST ngày 17/9/2015 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Văn bản số 275/XN-TGXM ngày 26/02/2025 của Trại giam X) nên không áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm đối với bị cáo V. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Ngô Quốc V từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 năm tù giam.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 túi niêm phong mã số PS2A 053355, bên trong chứa chất ma túy và toàn bộ vỏ bao gói được niêm phong hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của Huỳnh Minh N1, Nguyễn Ngọc C, Trần Đông A; 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 hộp giấy màu trắng, dạng hình hộp chữ nhật, trên hộp có ghi chữ “Galaxy A15”; 01 hộp nhựa màu đỏ - trắng; 01 nắp nhựa màu xanh có đục thủng 02 lỗ, một lỗ gắn nỏ bằng thủy tinh, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng – hồng; 01 ống hút bằng nhựa, một đầu ống hút bị cắt xéo; 01 máy lửa ga màu xanh; 01 túi ni lông màu hồng, bên trong chứa 193 túi ni lông màu trắng trong, viền đỏ, rỗng; 01 túi ni lông màu hồng, bên trong chứa 51 túi ni lông màu trắng trong, viền đỏ, rỗng; 01 cân tiểu ly màu đen, có ghi chữ “POCKET SCALE”; 01 cái muỗng bằng nhựa, màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng (3);

Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp: Trả lại 01 điện thoại di động iPhone, số seri: F2LFVP4W0D42; 01 điện thoại di động Redmi Note 10 Pro, màu đen; 01 thẻ ATM Ngân hàng V1, số thẻ 4541190144122998, mang tên “NGO QUOC VUONG”; 01 thẻ ATM Ngân hàng M và số tiền 11.000.000đồng cho bị cáo Ngô Quốc V. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Satria, màu đen-xám, biển số 76AF – 061.77 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 76001952 mang tên Ngô B-1960, biển số đăng ký 76AF – 061.77 cho ông Ngô Bút .

Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo Ngô Quốc V không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo tốt, sớm quay lại làm công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô B, bà Nguyễn Thị Thúy L tại phiên tòa: Bị cáo và Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đều đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử, không đề nghị hoãn phiên tòa. Xét ông Ngô B, bà Nguyễn Thị Thúy L trong quá trình điều tra đã có lời khai, việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Quốc V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:

Khoảng 14 giờ 55 phút ngày 18/10/2024, tại phòng trọ số C (ở hẻm S, đường L, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi); Công an tỉnh Q phát hiện, bắt quả tang đối tượng Ngô Quốc V đang có hành vi cất giấu 9,21 gam ma tuý loại Methamphetamine ở trong mũ bảo hiểm màu trắng treo trên kệ dép. Khám xét khẩn cấp phòng trọ của Ngô Quốc V thu giữ được 9,97 gam ma túy loại Methamphetamine và 7,76 gam ma túy loại Ketamine Vương cất giấu mục đích để sử dụng dần.

Tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp của bị cáo Ngô Quốc V là: 19,18 gam Methamphetamine; 7,76 gam Ketamine.

Căn cứ khoản 3, Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự quy định: Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy Methamphetamine và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (19,18/30) x 100% + (7,76/100) x 100% = 71,69% < 100%. Vì vậy, số ma tuý của bị cáo Ngô Quốc V thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q truy tố bị cáo Ngô Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Bị cáo Ngô Quốc V là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội, luôn có ý thức chấp hành chính sách pháp luật đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần phải đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo.

[5.1] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Ngô Quốc V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có cha được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3, 03 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 túi niêm phong mã số PS2A 053355, bên trong chứa chất ma túy và toàn bộ vỏ bao gói được niêm phong hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của Huỳnh Minh N1, Nguyễn Ngọc C, Trần Đông A; 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 hộp giấy màu trắng, dạng hình hộp chữ nhật, trên hộp có ghi chữ “Galaxy A15"; 01 hộp nhựa màu đỏ - trắng; 01 nắp nhựa màu xanh có đục thủng 02 lỗ, một lỗ gắn nỏ bằng thủy tinh, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng – hồng; 01 ống hút bằng nhựa, một đầu ống hút bị cắt xéo; 01 máy lửa ga màu xanh; 01 túi ni lông màu hồng, bên trong chứa 193 túi ni lông màu trắng trong, viền đỏ, rỗng; 01 túi ni lông màu hồng, bên trong chứa 51 túi ni lông màu trắng trong, viền đỏ, rỗng; 01 cân tiểu ly màu đen, có ghi chữ “POCKET SCALE”; 01 cái muỗng bằng nhựa, màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng (3), là vật chứng của vụ án, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động iPhone, số seri: F2LFVP4W0D42 và 01 điện thoại di động Redmi Note 10 Pro, màu đen; 01 thẻ ATM Ngân hàng V1, số thẻ 4541190144122998, mang tên “NGO QUOC VUONG”; 01 thẻ ATM Ngân hàng M; số tiền 11.000.000 đồng, đây là tài sản của bị cáo Ngô Quốc V không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Satria, màu đen-xám, biển số 76AF – 061.77 bị cáo V sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội: Qua xác minh, xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Satria, màu đen-xám, biển số 76AF – 061.77 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 76001952 mang tên Ngô B-1960, biển số đăng ký 76AF – 061.77. Khoảng tháng 9/2024, ông B cho bị cáo V mượn xe để làm phương tiện đi lại, ông B không biết bị cáo V thực hiện hành vi phạm tôi nên cần tuyên trả lại cho ông Ngô B là phù hợp.

[7] Về các vấn đề khác:

- Đối với đối tượng tên T (là người bán ma túy cho bị cáo Ngô Quốc V): Bị cáo V không xác định được nhân thân, lai lịch, đặc điểm của T nên Cơ quan điều tra không đủ thông tin để tiến hành xác minh.

- Đối với Nguyễn Thị Thúy L - là bạn gái của bị can Ngô Quốc V: V mua ma tuý đem về phòng trọ số 03 cất giấu và sử dụng, bà L không biết. Do đó, bà Nguyễn Thị Thúy L không đồng phạm với bị cáo V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự và không phạm tội “Che giấu tội phạm”, tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 389, Điều 390 Bộ luật Hình sự.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[9] Bị cáo Ngô Quốc V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Quốc V 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/10/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu, tiêu hủy:

01 túi niêm phong mã số PS2A 053355, bên trong chứa chất ma túy và toàn bộ vỏ bao gói được niêm phong hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của Huỳnh Minh N1, Nguyễn Ngọc C, Trần Đông A; 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 hộp giấy màu trắng, dạng hình hộp chữ nhật, trên hộp có ghi chữ “Galaxy A15”; 01 hộp nhựa màu đỏ - trắng; 01 nắp nhựa màu xanh có đục thủng 02 lỗ, một lỗ gắn nỏ bằng thủy tinh, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng – hồng; 01 ống hút bằng nhựa, một đầu ống hút bị cắt xéo; 01 máy lửa ga màu xanh; 01 túi ni lông màu hồng, bên trong chứa 193 túi ni lông màu trắng trong, viền đỏ, rỗng; 01 túi ni lông màu hồng, bên trong chứa 51 túi ni lông màu trắng trong, viền đỏ, rỗng; 01 cân tiểu ly màu đen, có ghi chữ “POCKET SCALE”; 01 cái muỗng bằng nhựa, màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng (3);

Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp:

Trả lại 01 điện thoại di động iPhone, số seri: F2LFVP4W0D42 và 01 điện thoại di động Redmi Note 10 Pro, màu đen; 01 thẻ ATM Ngân hàng V1, số thẻ 4541190144122998, mang tên “NGO QUOC VUONG”; 01 thẻ ATM Ngân hàng MB số [...] cho bị cáo Ngô Quốc V; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Satria, màu đen-xám, biển số 76AF – 061.77 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 76001952 mang tên Ngô B-1960, biển số đăng ký 76AF – 061.77 cho ông Ngô Bút .

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/02/2025 giữa Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi).

Trả lại số tiền 11.000.000 đồng cho bị cáo Ngô Quốc V (Theo Ủy nhiệm chi ngày 18/02/2025 giữa Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Quốc V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND thành phố Q;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Tp. Q;
  • - Chi Cục THADS Tp. Q;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ 55 phút ngày 18/10/2024, tại phòng trọ số 03 (ở hẻm số 203, đường L, phường Ngh, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi); Công an tỉnh Quảng Ngãi phát hiện, bắt quả tang đối tượng Ngô Quốc V đang có hành vi cất giấu 9,21 gam ma tuý loại Methamphetamine ở trong mũ bảo hiểm màu trắng treo trên kệ dép. Khám xét khẩn cấp phòng trọ của Ngô Quốc V thu giữ được 9,97 gam ma túy loại Methamphetamine và 7,76 gam ma túy loại Ketamine V cất giấu mục đích để sử dụng dần. Tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp của bị cáo Ngô Quốc V là: 19,18 gam Methamphetamine; 7,76 gam Ketamine. Căn cứ khoản 3, Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự quy định: Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy Methamphetamine và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (19,18/30) x 100% + (7,76/100) x 100% = 71,69% < 100%. Vì vậy, số ma tuý của bị cáo Ngô Quốc V thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger