|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HS-PT Ngày: 26/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Kiều Hương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung
Ông Nguyễn Đức Anh.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Viết Ngọc – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 26/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm vụ công khai vụ án hình sự thụ lý số 214/2024/TLPT-HS ngày 26/11/2024 đối với bị cáo Võ Văn P. Do có kháng cáo của bị cáo Võ Văn P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 15/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Bị cáo có kháng cáo:
Võ Văn P, tên gọi khác: không; sinh ngày 30 tháng 12 năm 1991, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn V và bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị B và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Ngoài ra còn có 03 bị cáo và 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5/2023, Võ Văn P điện thoại liên lạc với Nguyễn Đình T (sinh năm 1987, trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An- sinh sống và làm việc tại Thái Lan) qua mạng Messenger bằng tài khoản “Phapvan” đến tài khoản “nguyendinhtuan” của T để mua pháo đưa về Việt Nam bán kiếm lời. Sau khi trao đổi và thống nhất giá 01 cối pháo loại 36 quả là 200.000 đồng, P đặt mua
của T 21 thùng pháo, mỗi thùng 20 cối, tổng là 420 cối pháo loại 36 quả với tổng số tiền là 84.000.000 đồng. T nhất trí và nói với Pháp: "Khi nào hàng (pháo) về, xe Container đi qua huyện N trên đường T thì sẽ có người gọi điện thoại cho P ra nhận hàng", P đồng ý và nhắn tin gửi số điện thoại 0969.728.xxx của Pháp cho T để liên lạc. Đến khoảng tháng 10/2023, khi P đang ở nhà tại xóm T, xã N, huyện N thì có số điện thoại lạ gọi cho P, nói Pháp ra đoạn ngã tư đèn tín hiệu giao thông đường tránh thành phố V ở khu vực xã N, huyện N để nhận hàng. Pháp nhất trí và điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu Kia K3 màu sơn trắng, biển kiểm soát 37A-971.84 (xe đăng ký chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1983 - vợ của Pháp) đi ra điểm hẹn gặp một người lái xe container (không quen biết, không rõ biển số xe) để nhận 21 (hai mươi mốt) thùng bìa carton, bên trong mỗi thùng chứa 20 cối pháo loại 36 quả (tổng là 420 cối pháo). Pháp tự bốc hàng bỏ vào trong xe ô tô rồi điều khiển chở hai lần, lần thứ nhất chở 11 thùng, lần thứ hai chở 10 thùng đưa về để tại khu vực bãi đất trống gần nhà ở xóm T, xã N, huyện N rồi lấy bạt đã chuẩn bị sẵn trùm che kín lại và cất giấu tại đó. Đến khoảng cuối tháng 10/2023, sợ bị phát hiện nên P gọi điện thoại cho Nguyễn Đình L1 nhờ L1 tìm nơi cất giấu toàn bộ số pháo này và hứa trả cho L1 5.000.000 đồng (Pháp chưa trả tiền cho L1), L1 nhất trí. Sau đó, trong một lần L1 ngồi uống rượu với Nguyễn Tứ M tại nhà bố vợ của Mỹ (L1 là em họ của vợ Mỹ) thì L1 đặt vấn đề với M: “Em có mấy thùng pháo, cho em gửi nhờ nhà anh”, vì nể nang L1 là anh em họ hàng bên vợ nên M nhất trí. Đến khoảng một tuần sau, vào lúc 02 giờ sáng (không nhớ ngày cụ thể), L1 gọi cho M nói: “Pháo chuẩn bị về, anh ra đón cái”. Khoảng 15 phút sau, P điều khiển xe ô tô 37A-971.84 chở toàn bộ 21 thùng carton chứa 420 cối pháo loại 36 quả đưa đến nhà M (Pháp và M đã quen nhau từ trước), P và Mỹ lần lượt bê từng thùng carton chứa pháo vào cất giấu tại khu vực phơi đồ phía sau bếp nhà M và che đậy lại tránh người nhà của Mỹ phát hiện. Vài ngày sau, M mở một thùng carton ra xem thì thấy bên trong là pháo loại 36 quả, nên M gọi điện cho L1 hỏi mua 02 cối, L1 nhất trí bán cho M với giá 1.000.000 đồng (Mỹ chưa trả tiền cho L1), M cất giấu 02 cối pháo phía sau nhà tắm của gia đình.
Đến ngày 14/11/2023, một người đàn ông tên K ở thị xã C (Pháp không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) gọi điện thoại cho P đặt mua 160 cối pháo loại 36 quả và hẹn giao pháo tại địa điểm khu vực đường B, thuộc phường N, thị xã C, Pháp nhất trí và thống nhất với giá 650.000 đồng/01 cối. Sau đó P điện thoại cho Nguyễn Đình D (sinh năm 1982, trú tại xóm T, xã N, huyện N) nhờ D cùng đi đến nhà M nói là để bốc hàng cho P đưa đi bán, D nhất trí. Sau đó, P điều khiển xe ô tô 37A-971.84 đến nhà Mỹ và cùng với D bốc 08 thùng carton bên trong chứa 160 cối pháo loại 36 quả lên xe ô tô 37A-971.84 rồi D đi về (quá trình này P không nói cho D biết các thùng hàng là pháo, D cũng không biết đó là pháo), còn P một mình điều khiển xe ô tô chở 08 thùng carton chứa pháo đưa đến điểm hẹn với người đàn ông tên K. Sau khi gặp nhau, P giao cho người đàn ông tên K 08 thùng carton, bên trong mỗi thùng chứa 20 cối pháo loại 36 quả, tổng là 160 cối pháo loại 36 quả, Pháp nhận của người đàn ông tên K 104.000.000 đồng rồi điều khiển xe ô tô đi về nhà.
Cùng ngày hôm đó (14/11/2023), Nguyễn Thị L2 (là mự lấy cậu họ của Pháp) biết P có pháo nổ để bán nên L2 gọi điện thoại cho P đặt mua 60 cối pháo loại 36 quả để đưa về chia nhỏ ra bán lại cho người khác. Pháp nhất trí bán cho L2 với giá là 650.000 đồng/01 cối, nếu L2 lấy 60 cối pháo thì P sẽ khuyến mại cho L2 02 cối không lấy tiền và hai bên hẹn giao hàng tại nhà L2. Sau đó, P điều khiển xe ô tô 37A-971.84 đến nhà Mỹ lấy 03 thùng carton, bên trong mỗi thùng chứa 20 cối pháo loại 36 quả chở đến nhà L2, lúc đó L2 không ở nhà nên Pháp đưa số pháo này cất giấu tại khu vực chuồng gà nhà L2 và đi ra ki ốt bán xăng dầu nơi L2 bán hàng nói cho L2 biết. Khi L2 đi làm về vào khu vực chuồng gà thì thấy có 03 thùng carton dán kín, L2 mở ra xem thì thấy bên trong mỗi thùng có 20 cối pháo loại 36 quả, tổng là 60 cối pháo. Đến khoảng vài ngày sau, L2 đưa tiền đến trả cho P 37.700.000 đồng (Pháp không lấy tiền 02 cối pháo khuyến mại). Sau khi mua được pháo, đến ngày 19/11/2023 (ngày Đ), L2 đã lấy 05 cối pháo ra sử dụng (nổ), còn lại 55 cối pháo, L2 chia nhỏ ra cất giấu 02 thùng carton, bên trong mỗi thùng chứa 20 cối pháo ở phía sau tủ phòng bếp; 05 cối pháo bỏ vào bì xác rắn màu cam cất giấu giữa tường nhà và tường bếp và 01 thùng carton bên trong chứa 10 cối pháo cất giấu tại tường rào chuồng gà của gia đình L2 để bán lại cho người khác.
Ngày 20/11/2023, người đàn ông tên K tiếp tục gọi điện thoại cho P đặt mua 200 cối pháo, loại 36 quả và hẹn giao hàng tại địa điểm cũ (khu vực đường B, thuộc phường N, thị xã C), Pháp nhất trí. Sau đó, P gọi điện cho Nguyễn Đình T (sinh năm 1992, trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) nói với T đi bốc hàng cùng Võ Văn P thì T đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe ô tô 37A-971.84 đến nhà chở T đi đến nhà Mỹ, trên đường đi Pháp nói T điện thoại cho M chuẩn bị để P và T đến bốc hàng. Khi đến nhà M, T và P bốc 10 thùng carton, bên trong mỗi thùng là 20 cối pháo loại 36 quả đưa lên xe ô tô của Pháp, sau khi biết số hàng mình bốc lên xe cho P là P1 và được P hứa trả cho T 3.000.000 đồng thì T đồng ý cùng P chở pháo đi đến điểm hẹn để giao pháo cho người đàn ông tên K. Đến 18 giờ 20 phút cùng ngày, khi P và T đang trên đường chở số pháo nêu trên đi đến khu vực ngã ba đường K, thuộc xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Đội 4, Phòng PC02 Công an tỉnh N phối hợp với Công an huyện N kiểm tra, phát hiện bên trong xe ô tô 37A-971.84 do P điều khiển có 10 (mười) thùng carton kích thước mỗi thùng là (77,5x32x27,5)cm, bên trong mỗi thùng có 20 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (15x15x12)cm in hình hoa văn và chữ nước ngoài, mỗi khối chứa 36 thanh hình trụ tròn liên kết với nhau (nghi là pháo nổ). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, thu giữ của Võ Văn P 01 (một) xe ô tô con nhãn hiệu KIA K3 màu sơn trắng, biển kiểm soát 37A-971.84 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, bên trong có gắn số thuê bao 0899.236.257; thu giữ của Nguyễn Đình T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, không có nắp phía sau, bên trong có gắn số thuê bao 0832.195.608 - đưa về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N để làm việc.
Ngày 20/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị L2 và Nguyễn Tứ M, đồng thời khám xét khẩn cấp chỗ ở của các đối tượng liên quan. Kết quả: khám xét chỗ ở của Pháp không thu giữ đồ vật, tài sản gì; khám xét chỗ ở của Nguyễn Tứ M thu giữ 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (15x15x12)cm in hình hoa văn chữ nước ngoài, mỗi khối chứa 36 thanh hình trụ tròn liên kết với nhau (nghi là pháo nổ); khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị L2 thu giữ 02 (hai) thùng carton kích thước mỗi thùng là (77,5x32x27,5)cm, bên trong mỗi thùng có 20 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (15x15x12)cm in hình hoa văn và chữ nước ngoài, mỗi khối chứa 36 thanh hình trụ tròn liên kết với nhau (nghi là pháo nổ) ở phía sau tủ phòng bếp, 01 (một) thùng carton (có đặc điểm nêu trên) bên trong có 10 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước (15x15x12)cm in hình hoa văn chữ nước ngoài, mỗi khối chứa 36 thanh hình trụ tròn liên kết với nhau (nghi là pháo nổ) ở giữa tường nhà và tường bếp. Tất cả các vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét đều được niêm phong theo đúng quy định.
Ngày 21/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định số pháo đã thu giữ, kết quả như sau:
+ Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại hồi 08 giờ ngày 21/11/2023, đối với 10 (mười) thùng carton được đánh ký hiệu từ số 01 đến số 10 thu giữ của Võ Văn P và Nguyễn Đình T, xác định:
- - Thùng carton ký hiệu số 01: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15x15x12)cm, bên ngoài được dán giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và có dòng chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) ống trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn. Có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 31,98 kg (Ba mươi mốt phẩy chín mươi tám kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,80 kg (Bốn phẩy tám mươi kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 27,18 kg (Hai mươi bảy phẩy mười tám kilôgam).
- - Thùng carton ký hiệu số 02: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 31,81 kg (Ba mươi mốt phẩy tám mươi mốt kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,81 kg (Bốn phẩy tám mươi mốt kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 27 kg (Hai mươi bảy kilôgam).
- - Thùng carton ký hiệu số 03: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 31,70 kg (Ba mươi mốt phẩy bảy mươi mốt kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,74 kg (Bốn phẩy bảy mươi tư kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 26,96 kg (Hai mươi sáu phẩy chín mươi sáu kilôgam).
- Thùng carton ký hiệu số 04: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 31,79 kg (Ba mươi mốt phẩy bảy mươi chín kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,69 kg (Bốn phẩy sáu mươi chín kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 27,1 kg (Hai mươi bảy phẩy một kilôgam).
- Thùng carton ký hiệu số 05: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 32,08 kg (Ba mươi hai phẩy không tám kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,72 kg (Bốn phẩy bảy mươi hai kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 27,36 kg (Hai mươi bảy phẩy ba mươi sáu kilôgam).
- Thùng carton ký hiệu số 06: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 31,90 kg (Ba mươi mốt phẩy chín mươi kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,72 kg (Bốn phẩy bảy mươi hai kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 27,18 kg (Hai mươi bảy phẩy mười tám kilôgam).
- Thùng carton ký hiệu số 07: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 31,48 kg (Ba mươi mốt phẩy bốn mươi tám kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,65 kg (Bốn phẩy sáu mươi lăm kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 26,83 kg (Hai mươi sáu phẩy tám mươi ba kilôgam).
- Thùng carton ký hiệu số 08: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 32,24 kg (Ba mươi hai phẩy hai mươi tư kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,88 kg (Bốn phẩy tám mươi tám kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 27,36 kg (Hai mươi bảy phẩy ba mươi sáu kilôgam).
- Thùng carton ký hiệu số 09: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 31,92 kg (Ba mươi mốt phẩy chín mươi hai kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,78 kg (Bốn phẩy bảy mươi tám kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 27,14 kg (Hai mươi bảy phẩy mười bốn kilôgam).
- Thùng carton ký hiệu số 10: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 31,77 kg (Ba mươi mốt phẩy bảy mươi bảy kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,79 kg (Bốn phẩy bảy mươi chín kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 26,98 kg (Hai mươi sáu phẩy chín mươi tám kilôgam).
Tổng khối lượng 10 (mười) thùng carton thu giữ của Võ Văn P và Nguyễn Đình T được đánh số ký hiệu từ số 01 đến số 10 sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton là 318,67 kg (Ba trăm mười tám phẩy sáu mươi bảy kilôgam). Hội đồng đã lấy 47,58 kg (Bốn mươi bảy phẩy năm mươi tám kilôgam), được ký hiệu từ M1đến M10 để phục vụ giám định. Vật chứng còn lại có tổng khối lượng là 271,09 kg (Hai trăm bảy mươi mốt phẩy không chín kilôgam) được niêm phong lại vào trong 10 thùng carton ban đầu theo đúng quy định.
+ Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại hồi 08 giờ 35 phút ngày 21/11/2023, đối với 03 (ba) thùng carton (nghi là pháo nổ) được đánh từ số 11 đến số 13 và 01 (một) bì xác rắn màu trắng bên trong chứa 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) ống trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ) được đánh số ký hiệu 14, thu giữ của Nguyễn Thị L2, xác định:
- - Thùng carton ký hiệu số 11: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15x15x12)cm, bên ngoài được dán giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và có dòng chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) ống trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 32,21 kg (Ba mươi hai phẩy hai mươi mốt kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,75 kg (Bốn phẩy bảy mươi lăm kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 27,46 kg (Hai mươi bảy phẩy bốn mươi sáu kilôgam).
- - Thùng carton ký hiệu số 12: Bên trong có 20 (hai mươi) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 31,83 kg (Ba mươi mốt phẩy tám mươi ba kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,75 kg (Bốn phẩy bảy mươi lăm kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 27,08 kg (Hai mươi bảy phẩy không tám kilôgam).
- - Thùng carton ký hiệu số 13: Bên trong có 10 (mười) khối hình hộp chữ nhật (có đặc điểm như nêu trên) có tổng khối lượng (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton) là 15,95 kg (Mười lăm phẩy chín mươi lăm kilôgam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) khối có tổng khối lượng là 4,81 kg (Bốn phẩy tám mươi mốt kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 11,13 kg (Mười một phẩy mười ba kilôgam).
- Bì xác rắn màu trắng ký hiệu số 14: Bên trong có 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15x15x12)cm, bên ngoài được dán giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và có dòng chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) ống trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn có tổng khối lượng sau khi đã trừ vỏ bì là 8,08 kg (T1 phẩy không tám kilôgam). Hội đồng đã lấy 02 (hai) khối có tổng khối lượng là 3,21 kg (Ba phẩy hai mươi mốt kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 4,87 kg (Bốn phẩy tám mươi bảy kilôgam).
Tổng khối lượng 03 (ba) thùng carton và 01 (một) bì xác rắn thu giữ của Nguyễn Thị L2 được đánh số ký hiệu từ số 11 đến số 14 (sau khi đã trừ tổng khối lượng của vỏ thùng carton và bì) là 88,07 kg (T1 mươi tám phẩy không bảy kilôgam). Hội đồng đã lấy 17,52 kg (Mười bảy phẩy năm mươi hai kilôgam), được ký hiệu từ M11 đến M14 để phục vụ giám định. Vật chứng còn lại có tổng khối lượng là 70,54 kg (Bảy mươi phẩy năm mươi tư kilôgam) được niêm phong lại vào trong 03 (ba) thùng carton và 01 (một) bì xác rắn màu trắng ban đầu theo đúng quy định.
+ Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại hồi 09 giờ ngày 21/11/2023, đối với 01 (một) bì xác rắn màu xanh bên trong chứa 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) ống trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ) được đánh ký hiệu số 15, thu giữ của Nguyễn Tứ M, xác định:
- - Bì xác rắn màu xanh ký hiệu số 15: Bên trong có 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15x15x12)cm, bên ngoài được dán giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và có dòng chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) ống trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn có tổng khối lượng sau khi đã trừ vỏ bì là 3,11 kg (Ba phẩy mười một kilôgam). Hội đồng đã lấy 01 (một) khối có khối lượng là 1,57 kg (Một phẩy năm mươi bảy kilôgam) được ký hiệu M15 gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 1,54 kg (Một phẩy năm mươi tư kilôgam) được niêm phong lại bằng giấy màu nâu.
Như vậy, tổng khối lượng pháo mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thu giữ trong quá trình bắt quả tang đối với Võ Văn P và Nguyễn Đình T; thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở đối với Nguyễn Thị L2 và Nguyễn Tứ M, được ký hiệu từ số 01 đến số 15 là 409,85 kg (Bốn trăm linh chín phẩy tám mươi lăm kilôgam). Hội đồng đã lấy 66,67 kg (Sáu mươi sáu phẩy sáu mươi bảy kilôgam) gửi làm mẫu giám định; Khối lượng mẫu vật còn lại là 343,17 kg (Ba trăm bốn mươi ba phẩy mười bảy kilôgam).
Tại bản Kết luận giám định số 274/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 28/11/2023 của phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật (ký hiệu từ M1 đến M10) thu giữ của Võ Văn P và Nguyễn Đình T gửi giám định đều là pháo; đều thuộc loại pháo nổ; Các mẫu vật (ký hiệu từ M11 đến M14) thu giữ của Nguyễn Thị L2 gửi giám định đều là pháo; đều thuộc loại pháo nổ; Mẫu vật ký hiệu M15 thu giữ của Nguyễn Tứ M gửi giám định là pháo; thuộc loại pháo nổ.
Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 15/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An quyết định: Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Văn P 10 (mười) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 20/11/202.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Ngày 24/10/2024, bị cáo Võ Văn P có đơn kháng cáo với nội dung: Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức án quá nặng, chưa phù hợp với diễn biến thời điểm khởi tố vụ án, cũng như sự ăn năn hợp tác với Cơ quan điều tra, khắc phục hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
Trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo Võ Văn P cung cấp thêm tài liệu mới: xác nhận của cơ sở bảo trợ xã hội H (xóm G, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An) về việc Võ Văn P đã có hoạt động từ thiện giúp đỡ trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi và người khuyết tật tại cơ sở bảo trợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Võ Văn P làm rõ nội dung kháng cáo: Bị cáo thống nhất các nội dung của bản án sơ thẩm, chỉ xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn P; sửa bản án sơ thẩm về hình phạt. Xử phạt bị cáo Võ Văn P từ 08 (tám) năm 03 (ba) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 20/11/2023.
Bị cáo không có tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nội dung đơn kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Võ Văn P đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định: Khoảng tháng 5/2023, sau khi mua được 420 cối pháo nổ loại 36 quả với giá là 84.000.000 đồng, Võ Văn P đưa toàn bộ số pháo này về cất giấu tại bãi đất trống gần nhà P để bán cho người khác kiếm lời. Đến khoảng cuối tháng 10/2023, với sự giúp đỡ của Nguyễn Đình L1, Pháp đã đưa toàn bộ số pháo này đến cất giấu tại nhà của Nguyễn Tứ M ở xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Ngày 14/11/2023, P đã bán cho Nguyễn Thị L2 60 cối pháo nổ có khối lượng là 88,07 kilôgam với giá 37.700.000 đồng để L2 chia nhỏ bán lại cho người khác kiếm lời; đến 18 giờ 20 phút ngày 20/11/2023, tại khu vực ngã ba đường K, thuộc xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Pháp cùng với Nguyễn Đình T đang chở 200 cối pháo nổ có tổng khối lượng là 318,67 kilôgam đưa đi thị xã C bán cho người đàn ông tên K (không xác định được nhân thân, lý lịch) thì bị Công an tỉnh N phối hợp với Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ khối lượng pháo nêu trên. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn P đã bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
[3] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Văn P, thấy rằng: Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý, sản xuất, kinh doanh đối với một số loại hàng cấm đã được pháp luật quy định. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã cố ý thực hiện tội phạm với mục đích kiếm lời. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất vụ án, hành vi, vai trò của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Võ Văn P 10 (năm) tù về tội “Buôn bán hàng cấm” là nghiêm khắc.
Tại cấp phúc thẩm, ngoài các tình tiết đã được cấp sơ thẩm xem xét, bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới thể hiện bản thân bị cáo Võ Văn P thường xuyên có nhiều hoạt động thiện nguyện giúp đỡ trẻ em mồ côi, trẻ em nghèo tại cơ sở bảo trợ xã hội H, huyện Y. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, quá trình sinh sống tại địa phương đã có nhiều đóng góp đến hoạt động xã hội, mang đến nhiều giá trị tích cực trong cộng đồng nghĩ nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật trong xử lý tội phạm, cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo Võ Văn P.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Võ Văn P được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn P. Sửa bản án sơ thẩm số 81/2024/HSST, ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An về phần hình phạt, như sau:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Văn P 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 20/11/2023.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội. Bị cáo Võ Văn P không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Thị Kiều Hương |
Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 34/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Pháp phạm tội Buôn bán hàng cấm
