TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 34/2025/HS-ST Ngày: 25-03-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Kim Huế
- Bà Nguyễn Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 194/2024/HSST ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị N; tên gọi khác: không; sinh năm: 1995; tại: Quảng Nam; nơi thường trú: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Nam và nơi cư trú: Số nhà A, đường V, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Cao N1, sinh năm 1972 và bà Lê Thị N2, sinh năm 1975, hiện cư trú: xã T, huyện H, tỉnh Quảng Nam; Chồng Hà Như T, sinh năm 1973 (đã ly hôn), có 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018, hiện đang sống tại Số nhà 16, đường Vũ Trọng Phụng, xã Lộc Thanh, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Mộng Q, sinh năm 1983; địa chỉ: Số A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thùy C, sinh năm 1980; địa chỉ: Số C đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt)
- Ông Giã Thanh T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An. (có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an thành phố B thực hiện việc khám xét nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là chỗ ở theo các Quyết định số 2927/QĐ-KNCG, số 2928/QĐ-KNCG và số 2929/QĐ-KNCG ngày 24/11/2023 của Chủ tịch UBND thành phố B đối với Trần Thị N, sinh năm 1995 ở địa chỉ: Số A V, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Lê Vũ Thế L, sinh năm 1978 ở địa chỉ: Số C đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, và đối với Phạm Đức H, sinh năm 1968 ở địa chỉ: Số A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình khám xét cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã phát hiện và thu giữ số lượng phân bón không có hóa đơn chứng từ về xuất xứ nguồn gốc như sau:
Tại nơi ở của Trần Thị N, địa chỉ: Số A, V, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng:
Quá trình khám xét cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã phát hiện trong kho của căn nhà có 463 bao phân bón các loại khác nhau. Cụ thể như sau:
- 70 (bảy mươi) bao (khối lượng: 50 kg/bao) Phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô 15, Đơn vị kinh doanh sản xuất Công ty CP N4, ngày sản xuất 17/11/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S. (mẫu M1)
- 118 (một trăm mười tám) bao (khối lượng: 50 kg/bao) Phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô 06, Đơn vị sản xuất Công ty CP N4, ngày sản xuất 19/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH MTV H1. (mẫu M2)
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50 kg/bao) Phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô 14, Đơn vị sản xuất Công ty CP N4, ngày sản xuất 02/11/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1. (mẫu M3)
- 46 (bốn mươi sáu) bao (khối lượng: 50 kg/bao) Phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 10, Đơn vị sản xuất Công ty CP N4, ngày sản xuất 25/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S. (mẫu M4)
- 07 (bảy) bao (khối lượng 50 kg/bao) Phân bón DAP, tên lưu hành phân bón DAP 18-46-0, số lô: 16. Nơi sản xuất C2, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất 17/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1. (mẫu M5)
- 18 (mười tám) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân UREA, số lô 14. Mã số lưu hành 00750. Nơi sản xuất C2, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 06/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2. (mẫu M6)
- 12 (mười hai) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân UREA, số lô 03. Mã số lưu hành 00750. Nơi sản xuất C2, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 04/9/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2. (mẫu M7)
- 23 (hai mươi ba) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân NPK 20-10-25. Nơi sản xuất Công ty TNHH H1. (mẫu M8)
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân NPK 18-4-22, số lô: 15. Nơi sản xuất Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 06/10/2023. (mẫu M9)
- 04 (bốn) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân NPK 18-4-22, số lô: 16. Nơi sản xuất Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 03/10/2023. (mẫu M10)
- 36 (ba mươi sáu) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân KALI, số lô: 12. Tên lưu hành phân bón KALI 61%. Nơi sản xuất C2, Ấp E xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất 06/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1. (mẫu M11)
- 09 (chín) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân KALI, số lô: 02. Tên lưu hành phân bón KALI 61%. Nơi sản xuất C2, Ấp E xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất 29/9/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1. Tại thời điểm kiểm tra bà N không xuất trình được hóa đơn, chứng từ về xuất xứ nguồn gốc. Do vậy Cơ quan Công an thành phố B đã tiến hành lập biên bản tạm giữ tang vật theo quy định của pháp luật. (mẫu M12)
Theo bản kết luận giám định số 1101/KL-KTHS ngày 23/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C3 kết luận về thành phần, hàm lượng mẫu phân bón thu giữ của bà N là: hàm lượng C1 (C) tại mẫu M1, M2, M3, M4 không phát hiện; Magie (Mg) mẫu M1 là 1,6%, mẫu M2 là 1,32, mẫu M3 là 1,32, mẫu M4 là 1,48; tại mẫu M5 hàm lượng Đạm tổng số (N) là 11,3%, L hữu hiệu (P2O5hh) là 0,612%; tại mẫu M6 hàm lượng Đạm tổng số (N) là 4,98%, B là 0,586%; tại mẫu M7 hàm lượng Đạm tổng số (N) là 5,80%, B là 0,245%; tại mẫu M8 hàm lượng Đạm tổng số (N) là 10,5%, hàm lượng lân hữu hiệu (P2O5hh) không phát hiện, hàm lượng Ka li hữu cơ (K2Ohh) không phát hiện; tại mẫu M9 hàm lượng Đạm tổng số (N) là 12,9%, hàm lượng lân hữu hiệu (P2O5hh) là 0,358%, hàm lượng Ka li hữu cơ (K2Ohh) không phát hiện; tại mẫu M10 hàm lượng Đạm tổng số (N) là 11,6%, hàm lượng lân hữu hiệu (P2O5hh) là 0,412%, hàm lượng Ka li hữu cơ (K2Ohh) không phát hiện; tại mẫu M11 hàm lượng Ka li hữu cơ (K2Ohh) không phát hiện; tại mẫu M12 hàm lượng Ka li hữu cơ (K) là 6,98%.
Tại nơi ở của ông Lê Vũ Thế L và bà Nguyễn Thị Thùy C, địa chỉ: Số C đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng:
Quá trình khám xét cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã phát hiện trong kho chứa phân của căn nhà có 20 bao phân bón nhãn hiệu DAP 18-46-0, loại 50kg/bao. Tại thời điểm kiểm tra ông L không xuất trình được hóa đơn, chứng từ về xuất xứ nguồn gốc, do vậy Cơ quan Công an thành phố B đã tiến hành lập biên bản tạm giữ tang vật theo quy định của pháp luật.
Tại nơi ở của ông Phạm Đức H và bà Trần Thị Mộng Q, địa chỉ: Số A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Quá trình khám xét cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã phát hiện tại khu vực kho chứa phân của Công ty TNHH H2 có 40 bao phân có nhãn hiệu DAP loại 50kg/bao. Tại thời điểm kiểm tra ông H và bà Q không xuất trình được hóa đơn, chứng từ về xuất xứ nguồn gốc, do vậy Cơ quan Công an thành phố B đã tiến hành lập biên bản tạm giữ tang vật theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Do có quen biết với bà Phạm Thị Thanh Đ sinh năm 1979; ở địa chỉ: số D N, Phường E, Quận C, TP Hồ Chí Minh là giám đốc Công ty TNHH T2 ở địa chỉ Cụm C, Long An có ngành nghề sản xuất, kinh doanh phân bón trung vi lượng-NPK nên vào năm 2023 Trần Thị N đã hỏi bà Đ để mua phân bón giá rẻ nhằm mục đích để sử dụng bón vườn trồng cà phê có diện tích 1,4ha tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và bán cho người khác để kiếm lời. Lúc này do bà Đ biết được G1 năm 1987, địa chỉ: Tổ A, Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An là thủ kho của Công ty TNHH T2 do Đ làm giám đốc đã thu gom được lượng phân thải, phân sản xuất bị lỗi, phân kém chất lượng và phân rơi vãi trong quá trình vận chuyển và sản xuất của công ty mà Đ làm giám đốc cho T1 thu gom trước đó nên bà Đ đã nói N và T1 liên hệ với nhau để mua bán loại phân bón này. Sau đó T1 đã chủ động liên hệ và thỏa thuận về việc sẽ bán phân bón loại Phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, phân NPK, Phân UREA, phân DAP kém chất lượng đã thu gom được cho N với giá rẻ, đồng thời N cam kết chỉ sử dụng để bón vườn và không bán ra thị trường. Do vậy, T1 đã bán cho N số lượng là 27.650kg phân bón với số tiền là 11.400.000đ và tiền T1 thuê xe vận chuyển và bốc xếp của anh Ngụy Đình N3, sinh năm 1979, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là 8.600.000đ. Sau khi mua số phân trên từ T1 thì N mang về để tại nhà của mình ở địa chỉ số A V, phường L, thành phố B, Lâm Đồng nhằm mục đích để bón vườn trồng cà phê và bán lại cho bà Trần Thị Mộng Q, sinh năm 1983 ở địa chỉ: Số A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và bà Nguyễn Thị Thùy C, sinh năm 1980, địa chỉ: Số C đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Cụ thể như sau:
Đối với việc bán phân bón cho bà Trần Thị Mộng Q:
Do biết bà Trần Thị Mộng Q kinh doanh phân bón và có diện tích vườn trồng cà phê nhiều nên vào khoảng tháng 9/2023 Trần Thị N đến gặp bà Q nói có phân bón chất lượng tốt nhưng sẽ bán cho bà Q với giá rẻ hơn giá thị trường. Bà Q đồng ý mua của N 40 bao phân bón DAP mỗi báo có trọng lượng 50kg và trả trước cho N số tiền 3.000.000đ, số tiền còn lại nếu thấy phân sử dụng tốt thì hai bên tính toán sau. Sau khi mua số phân này của N thì bà Q cất giấu tại kho phân của nhà mình ở địa chỉ số A đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng nhằm mục đích để bón cho vườn cà phê, tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì ngày 24/11/2023 bị cơ quan CSĐT Công an thành phố B phát hiện thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 1105/KL-KTHS ngày 23/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C3 kết luận về thành phần, hàm lượng mẫu phân bón loại DAP 18-46-0 thu giữ của bà Q là: Đạm tổng số (N) là 8,10%, L hữu hiệu (P2O5hh) là 0,679%.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 34/KL-HĐĐG ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá – UBND thành phố B xác định giá trị của 47 bao có khối lượng 50kg /bao loại phân DAP có giá trị là 37.992.000đ.
Tại văn bản số 109/HĐĐG ngày 29/10/2024 của Hội đồng định giá – UBND thành phố B xác định giá trị của 40 bao có khối lượng 50kg /bao loại phân DAP thu giữ của bà Trần Thị Mộng Q có giá trị là 32.333.000đ.
Đối với việc bán phân bón cho bà Nguyễn Thị Thùy C:
Do biết bà Nguyễn Thị Thùy C kinh doanh phân bón và có diện tích vườn trồng cà phê nhiều nên vào khoảng tháng 9/2023 Trần Thị N đến gặp bà C nói có lượng phân bón chất lượng tốt và sẽ bán cho bà C với giá rẻ hơn giá thị trường. Bà C đồng ý mua của N số lượng 2.500kg phân bón trong đó có 20 bao phân bón mỗi bao có trọng lượng 50kg nhãn hiệu DAP PHILIPPIN, 20 bao phân bón nhãn hiệu DAP KOREA 18-46-0 phân bón loại DAP có trọng lượng 50kg/bao, và 20 bao phân bón có nhãn hiệu NPK 30-10-10 có trọng lượng 25kg/bao và trả cho N số tiền 20.000.000đ. Sau khi mua số phân này thì bà C đã sử dụng bón vườn hết 20 bao phân bón loại DAP PHILIPIN và 20 bao phân bón loại NPK 30-10-10 nên không thu giữ được. Số phân 20 bao còn lại thì bà C cất giữ tại kho phân của nhà mình ở địa chỉ số C đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng nhằm mục đích để sử dụng bón vườn, đến ngày 24/11/2023 thì bị cơ quan CSĐT Công an thành phố B phát hiện thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 1104/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C3 kết luận về thành phần, hàm lượng mẫu phân bón loại DAP 18-46-0 KOREA thu giữ của bà C là: Đạm tổng số (N) là 10,9%, L hữu hiệu (P2O5hh) là 0,642%.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 34/KL-HĐĐG ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá – UBND thành phố B xác định giá trị của 20 bao có khối lượng 50kg /bao loại phân DAP KOREA thu giữ của bà C có giá trị là 16.167.000đ.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã thu giữ:
- 70 (bảy mươi) bao (khối lượng: 50 kg/bao) Phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô 15, Đơn vị kinh doanh sản xuất Công ty CP N4, ngày sản xuất 17/11/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S, 118 (một trăm mười tám) bao (khối lượng: 50 kg/bao) Phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô 06, Đơn vị sản xuất Công ty CP N4, ngày sản xuất 19/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH MTV H1.
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50 kg/bao) Phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô 14, Đơn vị sản xuất Công ty CP N4, ngày sản xuất 02/11/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1.
- 46 (bốn mươi sáu) bao (khối lượng: 50 kg/bao) Phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 10, Đơn vị sản xuất Công ty CP N4, ngày sản xuất 25/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S.
- 07 (bảy) bao (khối lượng 50 kg/bao) Phân bón DAP, tên lưu hành phân bón DAP 18-46-0, số lô: 16. Nơi sản xuất C2, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất 17/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1.
- 18 (mười tám) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân UREA, số lô 14. Mã số lưu hành 00750. Nơi sản xuất C2, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 06/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2.
- 12 (mười hai) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân UREA, số lô 03. Mã số lưu hành 00750. Nơi sản xuất C2, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 04/9/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2.
- 23 (hai mươi ba) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân NPK 20-10-25. Nơi sản xuất Công ty TNHH H1.
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân NPK 18-4-22, số lô: 15. Nơi sản xuất Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 06/10/2023.
- 04 (bốn) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân NPK 18-4-22, số lô: 16. Nơi sản xuất Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 03/10/2023.
- 36 (ba mươi sáu) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân KALI, số lô: 12. Tên lưu hành phân bón KALI 61%. Nơi sản xuất C2, Ấp E xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất 06/10/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1.
- 09 (chín) bao (khối lượng: 50kg/bao) Phân KALI, số lô: 02. Tên lưu hành phân bón KALI 61%. Nơi sản xuất C2, Ấp E xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất 29/9/2023. Đơn vị phân phối Công ty TNHH S1 của Trần Thị N.
- Thu giữ 40 (bốn mươi) bao có khối lượng 50kg/01 bao phân bón loại DAP của Trần Thị Mộng Q, thu giữ và trả lại 820 bao phân nở loại 15kg/bao, 01(một) giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón số 476/GCN-BBP của Công ty TNHH H2; Sổ ghi chép nội dung mua bán hàng hằng ngày của Công ty TNHH H2, nội dung thể hiện việc bán hàng của Công ty từ ngày 25/3/2019 đến 24/11/2023, bìa màu xanh, gồm 136 (một trăm sáu mươi ba) tờ đã ghi nội dung thông tin. Tập hóa đơn đầu vào của Công ty TNHH H2, 03 (ba) tờ bản chính, 15 (mười lăm) tờ bản in hóa đơn điện tử, có chữ ký xác nhận của bà Trần Thị Mộng Q ở mặt sau các tờ. Tập hóa đơn đầu vào của Công ty TNHH H2, 45 (bốn mươi lăm) tờ bản in hóa đơn điện tử, có chữ ký xác nhận của bà Trần Thị Mộng Q ở mặt sau các tờ; 01 (một) cuốn sổ giao hàng thể hiện việc mua hàng của Công ty TNHH H3 (02 tờ ghi nội dung); 01 (một) cuốn sổ Công nợ thể hiện việc mua hàng của công ty CP D (02 tờ ghi nội dung); 01 (một) cuốn sổ Đại lý thể hiện việc mua hàng của công ty TNHH S1 (02 tờ ghi nội dung); 01 (một) cuốn sổ theo dõi bán hàng, thể hiện việc mua hàng của công ty TNHH C4 (02 tờ ghi nội dung); 01 (một) cuốn sổ bán hàng, thể hiện việc mua hàng của công ty CP V (02 tờ ghi nội dung); 01 (một) cuốn sổ Đại lý thể hiện việc mua hàng của công ty CP N5 (04 tờ ghi nội dung) cho Trần Thị Mộng Q.
- Thu giữ 20 (hai mươi) bao mỗi bao có khối lượng 50kg phân bón loại nhãn hiệu DAP KOREA 18-46-0 của Nguyễn Thị Thùy C.
- Thu giữ và trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X gắn sim số 0982.060.xxx cho Giã Thanh T1.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 14 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố Trần Thị N về tội “Buôn bán hàng giả là phân bón” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 195 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị N thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung của bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 195, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng) đến 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng).
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy:
- 70 (bảy mươi) bao (khối lượng: 50 kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 15, Đơn vị kinh doanh, sản xuất: Công ty CP N4, ngày sản xuất: 17/11/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S.
- 118 (một trăm mười tám) bao (khối lượng: 50 kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 06, đơn vị sản xuất: Công ty CP N4, ngày sản xuất: 19/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH MTV H1.
- 46 (bốn mươi sáu) bao (khối lượng: 50 kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 10, đơn vị sản xuất: Công ty CP N4, ngày sản xuất: 25/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S.
- 07 (bảy) bao (khối lượng 50 kg/bao) phân bón DAP, tên lưu hành: phân bón DAP 18-46-0, số lô: 16, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 17/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1.
- 23 (hai mươi ba) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân NPK 20-10-25, nơi sản xuất: Công ty TNHH H1.
- 18 (mười tám) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân UREA, số lô: 14, mã số lưu hành: 00750, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 06/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2.
- 12 (mười hai) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân UREA, số lô: 03, mã số lưu hành: 00750, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 04/9/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2.
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, nơi sản xuất: Công ty CP N4, Số lô: 14, ngày SX: 02/11/2023, nhãn Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH MTV H1.
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân NPK 18-4-22, số lô: 15, nơi sản xuất: Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 06/10/2023.
- 04 (bốn) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân NPK 18-4-22, số lô: 16, nơi sản xuất: Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 03/10/2023.
- 36 (ba mươi sáu) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân KALI, số lô: 12, tên lưu hành phân bón KALI 61%, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 06/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1.
- 09 (chín) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân KALI, số lô: 02, tên lưu hành phân bón KALI 61%, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 29/9/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1.
- 40 (bốn mươi) bao phân bón loại DAP mỗi bao có khối lượng 50kg.
- 20 (hai mươi) bao phân bón nhãn hiệu DAP KOREA 18-46 mỗi bao có khối lượng 50kg.
+ Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng) tiền thu lợi bất chính.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố B; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án:
Vào năm 2023 Trần Thị N đã có hành vi mua của G Thanh Tân tổng khối lượng 27.650kg các loại phân NPK, DAP, K.. kém chất lượng nhằm mục đích bón vườn và bán cho người khác để kiếm lời. Do vậy, vào tháng 9 năm 2023 tại thành phố B Trần Thị N đã bán cho bà Trần Thị Mộng Q 2.000kg loại phân DAP thu lợi được số tiền 3.000.000đ và bán cho bà Nguyễn Thị Thùy C số lượng 2.500kg phân bón trong đó có 20 bao, mỗi bao có trọng lượng 50kg nhãn hiệu DAP PHILIPPIN, 20 bao phân bón nhãn hiệu DAP KOREA 18-46-0 phân bón loại DAP có trọng lượng 50kg/bao và 20 bao phân bón có nhãn hiệu NPK 30-10-10 có trọng lượng 25kg/bao thu lợi được số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Số lượng phân bón mà N bán cho bà C và bà Q tương đương giá trị hàng thật là 48.500.000đ (bốn mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý của nhà nước về phân bón, làm ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Thị N phạm tội “Buôn bán hàng giả là phân bón”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 195 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Trần Thị N về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã nộp số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[4] Xét tính chất của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, thể hiện thái độ coi thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến trật tự quản lý kinh tế, bị cáo là người có nhận thức, có trình độ và năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của việc buôn bán hàng giả sẽ gây hậu quả cho người tiêu dùng nhưng vẫn thực hiện nhằm thu lợi cho bản thân, xét cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra nhằm cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét bị cáo mua phân bón về nhằm bón vườn và bán lại, số lượng phân bón bán ra người mua đã sử dụng một phần nhỏ nhưng chưa có thiệt hại gì, thu lợi bất chính không cao, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính, nên áp dụng hình phạt bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng) tiền thu lợi bất chính.
+ Tịch thu tiêu hủy đối với:
- 70 (bảy mươi) bao (khối lượng: 50 kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 15, Đơn vị kinh doanh, sản xuất: Công ty CP N4, ngày sản xuất: 17/11/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S.
- 118 (một trăm mười tám) bao (khối lượng: 50 kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 06, đơn vị sản xuất: Công ty CP N4, ngày sản xuất: 19/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH MTV H1.
- 46 (bốn mươi sáu) bao (khối lượng: 50 kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 10, đơn vị sản xuất: Công ty CP N4, ngày sản xuất: 25/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S.
- 07 (bảy) bao (khối lượng 50 kg/bao) phân bón DAP, tên lưu hành: phân bón DAP 18-46-0, số lô: 16, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 17/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1.
- 23 (hai mươi ba) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân NPK 20-10-25, nơi sản xuất: Công ty TNHH H1.
- 18 (mười tám) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân UREA, số lô: 14, mã số lưu hành: 00750, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 06/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2.
- 12 (mười hai) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân UREA, số lô: 03, mã số lưu hành: 00750, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 04/9/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2.
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, nơi sản xuất: Công ty CP N4, Số lô: 14, ngày SX: 02/11/2023, nhãn Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH MTV H1.
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân NPK 18-4-22, số lô: 15, nơi sản xuất: Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 06/10/2023.
- 04 (bốn) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân NPK 18-4-22, số lô: 16, nơi sản xuất: Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 03/10/2023.
- 36 (ba mươi sáu) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân KALI, số lô: 12, tên lưu hành phân bón KALI 61%, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 06/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1.
- 09 (chín) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân KALI, số lô: 02, tên lưu hành phân bón KALI 61%, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 29/9/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1.
- 40 (bốn mươi) bao phân bón loại DAP mỗi bao có khối lượng 50kg.
- 20 (hai mươi) bao phân bón nhãn hiệu DAP KOREA 18-46 mỗi bao có khối lượng 50kg.
[7] Bà Trần Thị Mộng Q và Nguyễn Thị Thùy C không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
[8] Đối với hành vi của Giã Thanh T1: Quá trình điều tra xác định: Giã T là thủ kho của Công ty TNHH T2, quá trình làm việc tại nhà máy S3 được bà Phạm Thị Thanh Đ cho thu gom và tận dụng số lượng phân bón rơi vãi, phân hết hạn, phân sản xuất bị lỗi để bán kiếm thêm thu nhập. Do vậy khi tiến hành thu gom và đóng bao phân bón thì T1 đã tận dụng các bao bì phân bón tương ứng với từng loại phân bón được thu gom rồi cất giữ vào kho chứa riêng để bán với giá rẻ cho các cá nhân có nhu cầu sử dụng. Trong năm 2023 T1 đã bán cho Trần Thị N tổng số lượng 27.650kg phân bón thu lợi được số tiền 11.400.000đ. Tuy nhiên khi bán phân cho N thì T1 đã thông báo cho N về chất lượng và nguồn gốc của phân bón và được N cam kết chỉ sử dụng số phân bón này vào mục đích bón vườn mà không bán ra thị trường. Ngày 28/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an T có Công văn số 2986/CV-ĐCSKT-MT về việc chuyển thông tin cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Long An để xem xét xử lý ông T1 theo thẩm quyền.
Đối với hành vi của bà Phạm Thị Thanh Đ là Giám đốc Công ty TNHH T2 có trụ sở tại Cụm C Long An: Quá trình điều tra xác định: Trong quá trình sản xuất, kinh doanh phân bón thì bà Đ đã cho ông Giã Thanh T1 tận dụng số phân bón rơi vãi, phân hết hạn, phân sản xuất bị lỗi và các bao bì phân bón để Tân đóng bao phân bón lại rồi bán kiếm thêm thu nhập, sau đó bà Đ đã giới thiệu Trần Thị N để Tân bán số phân bón này. Việc N sau khi mua phân của T1 thì đã bán lại cho bà Q và bà C để kiếm lời thì bà Đ không biết. Do vậy cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Đ là đúng theo quy định của pháp luật, đồng thời ngày 28/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an T có Công văn số 2986/CV-ĐCSKT-MT về việc chuyển thông tin cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Long An để xem xét xử lý bà Đ theo thẩm quyền.
Đối với bà Trần Thị Mộng Q đã có hành vi mua của Trần Thị N 2000kg phân bón loại DAP 16-48-0 có giá trị là 32.333.000đ . Quá trình điều tra xác định: Mục đích của bà Q khi mua số phân bón này không nhằm bán ra thị trường mà chỉ sử dụng để bón vườn trồng cà phê của gia đình. Do vậy cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Q là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Nguyễn Thị Thùy C đã có hành vi mua của Trần Thị N 2.500kg phân bón loại DAP và NPK. Quá trình điều tra xác định: Mục đích của bà C khi mua số phân bón này không nhằm bán ra thị trường mà chỉ sử dụng để bón vườn trồng cà phê của gia đình. Do vậy cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà C là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với số lượng 1.500kg phân bón bà Nguyễn Thị Thùy C sau khi mua của Trần Thị N thì đã sử dụng để bón cho cà phê hết nên cơ quan CSĐT không thu hồi để làm căn cứ định giá và giám định chất lượng và hàm lượng đối với số phân này nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với N và C.
Đối với Ngụy Đình N3 đã có hành vi vận chuyển phân bón của Giã T để giao cho Trần Thị N: Quá trình điều tra xác định: Khi vận chuyển phân bón thì N3 và N không có thỏa thuận, bàn bạc gì, N3 không biết việc N bán số phân bón giả cho bà Trần Thị Mộng Q và Nguyễn Thị Thùy C. Do vậy cơ quan CSĐT không xem xét trách nhiệm hình sự đối với N3 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Buôn bán hàng giả là phân bón”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 195; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị N 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng), sung vào ngân sách nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng).
+ Tịch thu tiêu hủy:
- 70 (bảy mươi) bao (khối lượng: 50 kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 15, Đơn vị kinh doanh, sản xuất: Công ty CP N4, ngày sản xuất: 17/11/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S.
- 118 (một trăm mười tám) bao (khối lượng: 50 kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 06, đơn vị sản xuất: Công ty CP N4, ngày sản xuất: 19/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH MTV H1.
- 46 (bốn mươi sáu) bao (khối lượng: 50 kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, số lô: 10, đơn vị sản xuất: Công ty CP N4, ngày sản xuất: 25/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S.
- 07 (bảy) bao (khối lượng 50 kg/bao) phân bón DAP, tên lưu hành: phân bón DAP 18-46-0, số lô: 16, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 17/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1.
- 23 (hai mươi ba) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân NPK 20-10-25, nơi sản xuất: Công ty TNHH H1.
- 18 (mười tám) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân UREA, số lô: 14, mã số lưu hành: 00750, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 06/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2.
- 12 (mười hai) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân UREA, số lô: 03, mã số lưu hành: 00750, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 04/9/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH S2.
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân bón Trung lượng Lân đen HUMIC& ĐẠM CÁ, nơi sản xuất: Công ty CP N4, Số lô: 14, ngày SX: 02/11/2023, nhãn Công ty TNHH S1 dán đè lên nhãn Công ty TNHH MTV H1.
- 60 (sáu mươi) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân NPK 18-4-22, số lô: 15, nơi sản xuất: Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 06/10/2023.
- 04 (bốn) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân NPK 18-4-22, số lô: 16, nơi sản xuất: Công ty TNHH S1, ngày sản xuất: 03/10/2023.
- 36 (ba mươi sáu) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân KALI, số lô: 12, tên lưu hành phân bón KALI 61%, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 06/10/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1.
- 09 (chín) bao (khối lượng: 50kg/bao) phân KALI, số lô: 02, tên lưu hành phân bón KALI 61%, nơi sản xuất: Cụm C, Ấp E xã L, huyện B, tỉnh Long An, ngày sản xuất: 29/9/2023, đơn vị phân phối: Công ty TNHH S1.
- 40 (bốn mươi) bao phân bón loại DAP mỗi bao có khối lượng 50kg.
- 20 (hai mươi) bao phân bón nhãn hiệu DAP KOREA 18-46 mỗi bao có khối lượng 50kg.
(Theo biên lai thu tiền số 0002495 ngày 07/02/2025 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/12/2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí tòa án. Buộc bị cáo Trần Thị N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Qui |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự về tội buôn bán hàng giả là phân bón
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Buôn bán hàng giả là phân bón
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buôn bán hàng giả là phân bón của bị cáo Trần Thị N
