Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 34/2025/DS-PT

Ngày 25/3/2025

“Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu công

nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Hoa.

Các thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu và ông Nguyễn Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 tháng 02, ngày 18 tháng 3 và ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2024/TLPT-DS ngày 01/11/2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 132/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2025/QĐPT-DS ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên tòa số 35/2025/TB-TA ngày 05 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1963.

    Địa chỉ : Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N: Ông Nguyễn Kiều Đ và bà Phạm Thị T - Luật sư - Văn phòng L8. Địa chỉ : Số A Hồ N, thành phố H.

  2. Bị đơn: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1948.

    Địa chỉ : Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà N1: Ông Hoàng Xuân T1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số B B, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Anh Vũ Trường T3, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

      Người đại diện theo ủy quyền của anh T3: Ông Vũ Trọng T2, sinh năm 1942.

    2. Ông Vũ Trọng T2, sinh năm 1942.

    3. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1965 và Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971.

    Đều ở địa chỉ : Thôn Ngọc Lặc, xã Ngọc Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

    1. Thôn Ngọc Lặc, xã Ngọc Sơn, thành phố Hải Dương. Đại diện Ông Trần Xuân Đ2 - Trưởng thôn.

  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Trường T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Bố mẹ bà là cụ Trần Văn Đ3, sinh năm 1919, chết năm 1982 và cụ Vũ Thị À, sinh năm 1914, chết năm 2006. Hai cụ sinh được 04 người con gồm: ông Trần Văn K (chết trước khi bà N1 ra đời năm 1948, không có vợ con), bà Trần Thị N1, ông Trần Văn M (sinh năm 1958, chết năm 1977, không có vợ, con) và bà là Trần Thị N. Ngoài ra cụ Đ3, cụ À không có con nuôi, con riêng, con chung nào khác. Cụ Đ3 và cụ À chết không để lại di chúc và nghĩa vụ về tài sản. Khi bố mẹ bà còn sống, hai cụ được quyền sử dụng hơn 1000m2 đất tại thôn N, xã N, huyện T (nay là thành phố H), tỉnh Hải Dương. Năm 1981, hai cụ bán cho cụ Trần Thị V diện tích đất 124m2, hiện do bà Vũ Thị N2 (con gái cụ V) quản lý, sử dụng. Năm 1982, cụ Đ3 chết, năm 1985 bà được cụ À cho 256m² đất. Sau đó vợ chồng bà xây nhà và công trình phụ để ở. Năm 1989 vợ chồng bà được gia đình chồng cho đất nên đã về đó xây nhà, còn phần đất 256m² do cụ À cho thì con gái bà là chị H (6 tuổi) ở cùng cụ À, thỉnh thoảng qua lại. Năm 1999 vợ chồng bà N1 mua lại diện tích đất 256m² mà bà được cụ À cho. Bà N1 đi làm ăn và định cư ở miền nam đến năm 2004 về xây nhà trên phần đất 256m² mua của bà và chung sống với cụ À tại mảnh đất đang tranh chấp cho đến khi cụ À qua đời và cho đến nay. Phần đất còn lại là của bố mẹ bà là diện tích 958m2 tại thửa số 560, tờ bản đồ 02, được UBND huyện T, tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/12/1991 tên cụ Vũ Thị À, trên đất có một ngôi nhà hai gian cấp 4 lợp ngói. Quá trình sử dụng đất, cụ À có bán cho bà Lê Thị T4 khoảng 18m2 đất vườn vào năm 1990, 1991. Bà T4 đã xây dựng công trình trên đất đó quản lý, sử dụng cho đến nay. Bà không có tranh chấp gì với bà T4. Sau khi cụ À chết vợ chồng bà N1 có công sức trông nom, tôn tạo cao đất để sử dụng làm vườn, xây tường bao quanh đất, sửa nhà cho cụ À ở. Đối với việc sửa chữa ngôi nhà của cụ À vào năm 2004: Do nhà xuống cấp thì vợ chồng bà N1 có mua thêm cát, xi măng về sửa chữa lại. Ông T2 (chồng bà N1) trình bày mua hết 11.400.000đ là không hợp lý. Về công sức trông nom, tôn tạo thửa đất, sửa chữa nhà cho cụ À bà đề nghị giải Tòa án quyết theo pháp luật.

Đối với việc bà N1 cho rằng cụ À có di chúc cho anh T3 là con trai bà N1 diện tích đất 958m² và tài sản trên đất: Bà N khẳng định các tài liệu bà N1 nộp về việc cụ À chuyển quyền thừa kế cho anh T3 là hoàn toàn không đúng sự thật, đây là những văn bản do tự gia đình bà N1 lập ra. Cụ À không biết chữ, khi còn sống nếu phải giao dịch bất cứ một giao dịch nào cụ À đều điểm chỉ (việc cụ À không biết chữ bà là con nên bà biết). Trong Đơn xin chuyển quyền thừa kế ngày 23/6/1999; Di chúc ngày 12/02/2005 do bà N1 xuất trình cụ À không điểm chỉ mà lại có chữ “à” là không chính xác. Mặt khác, chữ ký Trần Thị N tại Đơn xin chuyển quyền thừa kế không phải là của bà, bà không biết ai đã viết tên bà vào đó. Do bà xác định cụ À chết không để lại di chúc nên bà không yêu cầu giám định chữ ký của cụ À và giám định tuổi mực tại bản di chúc. Đề nghị Tòa án xem xét tính hợp pháp của bản di chúc theo quy định của pháp luật.

Đến nay bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị chia thừa kế đối với phần đất của bố mẹ bà để lại là 958m2 hiện bà N1 đang quản lý, sử dụng trên đất có ngôi nhà cấp 4 hai gian lợp ngói và 01 cây nhãn, 01 cây mít. Bà xin hưởng bằng hiên vật, không yêu cầu tính công sức đối với khối di sản của hai cụ để lại. Ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

Về phần đất nông nghiệp: Bà N không yêu cầu chia đất nông nghiệp, tuy nhiên bà N1 đề nghị chia đất nông nghiệp của cụ À thì quan điểm của bà như sau: Xác định tại thời điểm chia ruộng thì cụ À và anh T3 được chia ruộng chung. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ cụ À được cấp 773m2 (bao gồm một nửa của cụ À, một nửa của anh T3). Quá trình sử dụng đất nông nghiệp khi cụ À còn sống có cho bà sử dụng toàn bộ đất nông nghiệp. Khoảng năm 2003, cụ À đã bán cho vợ chồng ông Đồng L1 ruộng ở xứ đồng Chiều Cụt diện tích 162m². Khi cụ À bán đất nông nghiệp cho ông Đồng L1 thì cụ À có nói cho bà biết và bà đã thôi không cấy diện tích đất ở đồng Chiều Cụt, bà không biết cụ bán được bao nhiêu tiền. Số tiền cụ À bán ruộng, đất cụ chi tiêu hằng ngày cho cụ. Hiện nay, ông Đ1 đã san lấp, lập vồng trồng cây cối trên đó bà không có ý kiến gì. Phần ruộng còn lại do bà quản lý, sử dụng. Năm 2007, vợ chồng bà N1 yêu cầu bà trả lại ruộng của anh T3, bà đã trả xong. Hiện nay bà chỉ sử dụng diện tích đất 161m2 ở xứ đồng Thành Trại. Bà nhất trí chia theo pháp luật diện tích đất nông nghiệp của cụ À. Tiền mai táng phí cho cụ Đ3, cụ À là do bà và bà N1 đứng ra lo. Khi chết cụ Đ3, cụ À không để lại nghĩa vụ gì đối với nhà nước hay cá nhân nào khác.

Theo biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày:

Bố mẹ bà N1 là cụ Trần Văn Đ3 và cụ Vũ Thị À, về năm sinh, năm mất và hai cụ có có 4 người con như bà N trình bày là đúng. Khi còn sống cụ Đ3 và cụ À có khối tài sản là hơn 1.000m2 đất tại thôn N, xã N, TP H. Năm 1981, hai cụ đã chuyển nhượng cho cụ Trần Thị V một phần đất, thời gian nào, diện tích bao nhiêu, bao nhiêu tiền bà không biết, bà không có ý kiến gì. Sau khi cụ Đ3 chết, bà N lấy chồng là ông S năm 1982. Cụ À đã chia cho bà N một phần đất diện tích 256m2, bà cũng biết và đồng ý. Còn lại 958m2 tại thửa đất số 560 trên đó có nhà 4 gian cấp 4 của hai cụ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ À. Thời gian cụ À còn sống, cụ À đã bán 1 ít đất (diện tích bao nhiêu, bao nhiêu tiền bà không biết) cho bà Lê Thị T4 (hàng xóm), bà T4 đã quản lý, sử dụng phần đất này, bà không có tranh chấp gì với nhà bà T4. Sau khi bà N được cụ À cho đất đã ở đó một thời gian sau đó bà N được gia đình nhà chồng cho đất và quá trình ở gần thì có mâu thuẫn với cụ À nên vợ chồng bà N không ở đó nữa. Năm 1997 vợ chồng bà mua lại phần đất, công trình của vợ chồng bà N để tiện chăm sóc cụ À. Sau đó vợ chồng bà đã xây nhà và các công trình trên đất để ở và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà và ông T2. Phần đất còn lại của bố mẹ là 958m² tại số thửa 560 tờ bản đồ số 02 xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương đã được UBND huyện T, tỉnh Hải Hưng (nay là huyện T, tỉnh Hải Dương) cấp GCNQSDĐ ngày 11/12/1991 mang tên cụ Vũ Thị À.

Mẹ bà là cụ À chết ngày 06/12/2006, trước khi chết nguyện vọng của cụ À muốn để lại phần nhà đất cụ đang ở cho anh T3 là con trai bà để làm nơi thờ cúng, do vậy ngày 21/6/1999 cụ Vũ Thị À có lập giấy ủy quyền với nội dung để lại thửa đất 958m² và một nhà ngói 4 gian và toàn bộ đồ dùng trong nhà của cụ À để lại cho cháu ngoại là anh T3, để thờ cúng ông bà tổ tiên. Khi lập giấy ủy quyền có chữ ký của cụ À và người làm chứng là ông Trần Văn S1 và ông Nguyễn Quyết . Khi lập giấy ủy quyền thì cụ À đọc cho anh T3 viết có sự chứng kiến của ông S1 và ông Q đều trú tại thôn N, xã N. Đến ngày 23/6/1999 cụ À làm Đơn xin chuyển quyền thừa kế diện tích đất cụ được cấp cho anh T3 có chữ ký của cụ À và chữ ký của ông S1 và ông Vũ Ngọc U và chữ ký của bà Trần Thị N và có chứng thực của trưởng thôn là ông Nguyễn Đức L2, xác nhận của địa chính xã ông Vũ Văn Đ4. Khi lập các giấy tờ trên thì cụ À vẫn còn minh mẫn, cụ À có biết chữ. Sau khi lập xong thì cụ À đưa cả hai giấy cùng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc cho bà cất giữ. Những người chứng kiến việc cụ À lập thì hiện nay ông S1 và ông U chết, còn ông Q không còn minh mẫn, ông Đ4 chết. Ngày 12/2/2005, cụ À nhờ cháu Đặng Quang T5 viết hộ di chúc thể hiện cụ đã cho bà N là con gái út 256m² đất còn lại đang sử dụng 958m² và 4 gian nhà ngói cùng đồ dùng trong nhà. Nay cụ làm di chúc để lại toàn bộ tài sản cho anh T3 là con trai của bà. Sau khi cụ chết anh T3 có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên ông bà có người làm chứng cụ Đỗ Văn Y, ông Trần Văn D, ông Đặng Quang T5. Bà N1 xác định cụ À chết có để lại di chúc, nguồn gốc di sản thừa kế hiện nay là tài sản chung của cụ Đ3 và cụ À, tuy nhiên khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên cụ À nên xác định là tài sản của cụ À, trên diện tích đất này có 2 gian nhà ngói và các tài sản trên đất là 01 cây mít và 01 cây nhãn. Hiện nay do vợ chồng bà đang trực tiếp quản lý là di sản của cụ À để lại. Di sản của cụ À để lại nhưng cụ À đã có di chúc cho anh T3 được toàn quyền quản lý, sử dụng nên đề nghị Tòa án chấp nhận nguyện vọng chia thừa kế theo di chúc của cụ À. Nếu bà N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện thì bà đề nghị Tòa án giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N vì bản thân bà N cũng biết việc cụ À cho anh T3 đất nên khi cụ À còn sống năm 2004 bà N có vào trong Bình Phước gặp anh T3 nói chuyện muốn xin một phần đất nhưng anh T3 không đồng ý.

Về đất nông nghiệp: Cụ À và anh T3 được chia 773m² đất nông nghiệp, được cấp chung một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm ở các xứ đồng: Thành trại 332m²; cửa đình 141m², Đường mạ 84m², Cửa Đình 64m², chiều cụt 162m². Khi cụ À chết, bà N quản lý, sử dụng hết toàn bộ ruộng trên. Năm 2007, vợ chồng bà có yêu cầu bà N trả tiêu chuẩn ruộng của anh T3 về sử dụng. Đến thời điểm hiện nay bà sử dụng ở Đường M (sử dụng ½ diện tích), Thành T6 (sử dụng ½ diện tích) và Cửa Đ5 còn lại bà N sử dụng. Quan điểm của bà N1 đề nghị Tòa án chia thừa kế đất nông nghiệp của cụ À theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu độc lập của ông Đ1, bà L2 yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất 162m² tại cánh đồng Chiều Cụt giữa cụ À và vợ chồng ông Đ1 bà L2 từ năm 2004, về việc này bà N1 xác định khi cụ À còn sống, cụ không bán đất ruộng cho ai. Nếu ông Đ1 không xuất trình được chứng cứ giấy tờ, xã không xác nhận thì bà vẫn giữ nguyên yêu cầu chia di sản thừa kế là đất nông nghiệp của cụ À để lại, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông Đ1, bà L2.

Tiền mai táng phí cho cụ À là do bà và bà N đứng ra lo. Khi chết cụ À không để lại nghĩa vụ gì đối với nhà nước hay cá nhân nào khác. Toàn bộ di sản mà bà được hưởng của cụ À, cụ Đ3 bà tự nguyện cho anh T3 và không yêu cầu anh T3 phải trả tiền cho bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Trọng T2 trình bày:

Sau khi cụ À chết, từ năm 2006 đến nay thì ông T2, bà N1 là người trông nom, quản lý diện tích đất 958m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ À. Do đất trũng, thấp nên vợ chồng ông bà có công san lấp, vượt lập thửa đất cụ thể: mua đất cát san lấp vườn, san lấp từ năm 2004 đến năm 2018, xây tường bao xung quanh bảo vệ đất. Thuê người chở cát đổ vào vườn như ông Trịnh Văn B 190 xe cát, Hoàng Văn L3 170 xe, ông Trần Văn T7 180 xe, ông Trần Văn L4 70 xe, ông Trịnh Văn N3 30 xe, con rể ông T8 Phiến 10 xe; thuê ông Nguyễn Văn T9, ông Trịnh Văn N3, ông Vũ Văn A, ông Đặng Văn H1, ông Vũ Văn G, ông Vũ Văn B1. Mua của ông B 01 vạn gạch chỉ hết 15.000.000đồng; 2,5 tấn xi măng Hoàng Thạch hết 15.000.000đồng; 10m3 cát vàng hết 3.000.000đồng; thuê nhóm thợ xây gồm ông Vũ Văn C, ông Vũ Văn T10, ông Vũ Văn T11, tổng công thợ hết 3.000.000 đồng. Năm 2005, vợ chồng ông bà mua 2.700 viên gạch ba banh của bà N (không nhớ số tiền), 05 tạ vôi của ông Vũ Văn Đ6 (ở N, xã N, không nhớ bao nhiêu tiền), cát mua của ông Hoàng Văn L3 (ở N, xã N, không nhớ số tiền). Ngoài ra, thuê ông Lê Văn V1, ông Lê Văn T12 (ở N, xã N) xây tường bao (không nhớ công hết bao nhiêu tiền). Năm 2004, do ngôi nhà 4 gian lợp ngói của cụ À xuống cấp nên vợ chồng ông bà đã sửa lại nhà cho cụ À ở, cụ thể: Thay xà lòng bằng gỗ mới, dỡ ngói lợp mái, mua thêm xà gồ, làm lại kèo ở giữa nhà, láng nền nhà bằng xi măng, đập một phần tường để xây lại từ nhà 04 gian thành 02 gian. Việc mua nguyên vật liệu: Nhờ ông Trịnh Xuân B2 mua hộ và vận chuyển đến, xà gồ mua của ông Vũ Văn T13 (ở thôn N, xã N) 10 cây tre với giá tiền 3.000.000đồng, thuê ông Nguyễn Văn B3 (ở N, xã N) xẻ và đục kèo hết 1.500.000đồng, mua của gia đình bà Trung H2 (ở N, xã N) dây thép buộc, đinh, boong cửa hết 200.000đồng, mua của ông Trịnh Xuân B2 (ở N, N) cát xây tường, xi măng hết 2.250.000đồng; Ngoài ra thuê các ông Vũ Văn H3, Phạm Văn T14, bà Đỗ Thị H4 (ở N, xã N) xây sửa nhà với số tiền 2.500.000đồng. Tổng cộng hết 11.400.000đồng. Đến năm 2017, vợ chồng ông bà đập bỏ tường bao cũ và xây mới tường bao trên phần đất của cụ À để bảo vệ đất cụ thể là mua của ông B2 3 vạn gạch chỉ hết 27 triệu đồng, 7 tấn xi măng hết 21 triệu, cát vàng 30m3 hết 9 triệu đồng. Thuê thợ xây là ông Vũ L5, ông Bùi Văn P, ông M1, (ở thôn M, xã N), ông V2 ở thôn P, xã N, ông T15 ở Đ, bà Lê Thị T4 (ở thôn N) tổng hết 17 triệu đồng. Toàn bộ việc mua bán nguyên vật liệu và thuê nhân công để san lấp, vượt lập, xây tường bao, sửa chữa nhà cho cụ À thì ông bà chỉ thỏa thuận miệng, không có giấy tờ gì. Ông T2, bà N1 đề nghị nếu Tòa án xác định di chúc của cụ À là hợp pháp, cụ À đã cho con trai ông bà là anh Tam toàn B4 diện tích đất và tài sản trên đất của cụ À thì ông bà không có ý kiến tranh chấp gì, không yêu cầu anh T3 phải trả tiền công sức san lấp vượt lập, xây dựng, sửa chữa, quản lý thửa đất và trả tiền về các cây cối, công trình của ông bà trên đất. Còn nếu Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật thì ông bà đề nghị Tòa án tính công trông nom, quản lý, san lấp, xây dựng, trồng cây trên diện tích đất cấp cho cụ À theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Trường T3 (do ông T2 đại diện theo ủy quyền trình bày):

Đối với diện tích đất nông nghiệp cấp cho hộ cụ À trong đó bao gồm phần diện tích đất của anh T3. Bà N1 yêu cầu chia di sản thừa kế là đất nông nghiệp của cụ À, anh T3 đề nghị Tòa án xác định phần đất nông nghiệp của anh trong tổng diện tích đất nông nghiệp cấp cho hộ cụ À theo quy định của pháp luật và không có ý kiến gì. Việc cụ À có di chúc cho anh phần diện tích đất 958m² và toàn bộ tài sản trên đất anh xin nhận và sẽ có trách nhiệm thờ cúng ông bà tổ tiên. Anh không có công sức gì đối với khối di sản của cụ À để lại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ1, bà Nguyễn Thị L trình bày:

Ông và bà L là vợ chồng, bà L đi lao động xuất khẩu ở Đài Loan từ cuối năm 2003 đến tháng 6 năm 2024 mới về nước. Khoảng đầu năm 2003 vợ chồng ông bà có mua diện tích đất nông nghiệp 162m² ở cánh đồng Chiều Cụt của cụ À. Việc giao dịch mua bán đất ruộng giữa vợ chồng ông bà và cụ À là hoàn toàn tự nguyện, lúc đó cụ À hoàn toàn khỏe mạnh, tỉnh táo và minh mẫn. Hai bên thỏa thuận giá 162m² đất là 400.000đ, vợ chồng ông đã trả hết tiền cho cụ À từ năm 2003. Việc mua bán đất và trả tiền chỉ bằng miệng, không lập văn bản giấy tờ gì vì hai bên gia đình có quen biết từ lâu nên tin tưởng nhau. Lúc giao tiền tại nhà ông có mẹ ông (đã chết vào cuối năm 2003), ngoài ra không có ai chứng kiến. Cụ À có bảo con gái là bà N từ vụ sau không cấy nên bà N cũng không sử dụng. Sau khi mua ruộng, vợ chồng ông cấy lúa đến năm 2018 san lấp ruộng, lập vồng, bơm bùn, trồng một số cây. Hàng năm, gia đình ông đều đóng tiền dịch vụ khơi thông dòng chảy, diệt chuột cho địa phương. Vợ chồng ông đã đề nghị với UBND xã về việc làm thủ tục sang tên thửa ruộng trên nhưng cán bộ địa chính nói do diện tích đất ruộng ít nên chưa điều chỉnh. Từ cuối năm 2003 bà L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến năm 2024 mới về nước, trong thời gian ở Đài Loan bà có trốn ra ngoài làm việc nên không liên lạc với gia đình, khi về nước bà mới biết việc bà N1 khởi kiện chia diện tích đất nông nghiệp của cụ À trong đó cả cả phần đất vợ chồng bà đã mua của cụ À. Vì vậy ông bà mới làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp 162m² giữa vợ chồng ông bà và cụ À. Nay bà N1 và bà N có tranh chấp về di sản của cụ À, trong đó yêu cầu cả diện tích đất nông nghiệp mà cụ À đã bán cho vợ chồng ông bà, ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N1 và đề nghị Tòa án giải quyết công nhận giao dịch chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp 162m² mà cụ À đã bán cho vợ chồng ông bà.

Đại diện thôn N - ông Trần Xuân Đ2 trình bày: Năm 2015 gia đình cụ À có cho Thôn N mượn đất để đắp đường nội đồng theo phương án chỉnh trang đồng ruộng. Tổng diện tích cho thôn mượn là 70m² tại thửa đất số 193/1, tờ bản đồ 08, tại cánh đồng C. Nay bà N1 yêu cầu chia thừa kế diện tích đất trên thôn N nhất trí trả lại diện tích đất mượn là 70m² cho gia đình cụ À. Đề nghị Tòa án xác định diện tích đất được cấp cho hộ cụ À tại thửa đất 193/1, tờ bản đồ 08 vẫn là 141m² để chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Về diện tích đất 958 m² đã được cấp GCN mang tên cụ À, đo vẽ theo hiện trạng 1028m² có giá đất ở là 5.000.000đ/m²; đất trồng cây lâu năm là 2.500.000đ/m². Về tài sản, cây cối trên đất: 01 nhà cấp 4 giá trị 20.089.304đ; 01 bể nước cũ các đương sự không yêu cầu định giá sau này chia cho ai thì người đó được hưởng. Cây cối là di sản của cụ Đ3, cụ À: 01 cây nhãn đường kính tán 4m trị giá 1.500.000đ; 01 cây mít đường kính gốc 30cm trị giá 460.000đ. Ngoài ra, còn một số công trình và cây cối của ông T2, bà N1. Các thửa đất nông nghiệp cấp cho hộ cụ Vũa Thị Àl gồm: Thửa 296/1 diện tích 322m² tại cánh đồng Thành Trại; Thửa 236/3b diện tích 84 m² tại cánh đồng Đường M; Thửa 264/4b diện tích 64 m² tại cánh đồng C; Thửa 405/3 diện tích 162m² tại cánh đồng Chiều Cụt theo hiện trạng vẫn đúng diện tích so với GCN được cấp. Riêng thửa 193/1, tờ bản đồ 08, diện tích 141m² tại cánh đồng Cửa Đình so sánh với diện tích đo vẽ theo hiện trạng đo đạc thực tế hiện chỉ còn 71m² (lý do cụ À cho (thôn N) mượn 70m² đất ruộng làm đường giao thông nội đồng vào năm 2015). Thửa 405/3 diện tích 162m² tại cánh đồng Chiều Cụt hiện ông Đ1 đã san lấp, lập vồng trồng cây. Còn lại các thửa đất khác đều là đất trống không có cây cối hoa màu gì. Các thửa đất nông nghiệp là đất ruộng chưa san lấp có giá 95.000đ/m². Riêng thửa 405/3 diện tích 162m² tại cánh đồng Chiều Cụt hiện ông Đ1 đã san lấp, vượt lập có giá là: 180.000đ/m³ đất san lấp. Về tài sản trên thửa đất 405/3: 04 cây bưởi đường kính gốc 5cm có giá 290.000đ; 01 cây xoan đường kính gốc 9cm có giá là 20.000đ; 03 cây mít đường kính gốc 9cm có giá là 540.000đ.

Tại Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 09/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã quyết định: Căn cứ Điều 649; 650; 652; 653; 655; 656; 657; 659 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 15 Luật hôn nhân gia đình năm 1959; Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 658, 659, 660, 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 137 Luật đất đai 2024. Căn cứ khoản 3, 5 Điều 26, Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158, Điều 165; Điều 166; Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; án lệ số 15/2017/AL được công bố theo Quyết định số 299/QĐ - CA ngày 28/12/2017 về việc công nhận thỏa thuận miệng của các đương sự trong việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; Án lệ số 55/2022/AL được công bố theo Quyết định số 323/QĐ - CA ngày 14/10/2022 về công nhận hiệu lực của hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức và Nghị quyết số 02/2004/NQ - HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án .

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N về việc chia di sản thừa kế của cụ Đ3 và cụ À để lại là thửa đất số 560, tờ bản đồ 02 (nay là thửa đất số 497, tờ bản đồ 16) diện tích đo vẽ theo hiện trạng là 1.028m².

    Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N1 về việc chia di sản là diện tích đất nông nghiệp của cụ Vũ Thị À.

    Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất nông nghiệp 162m² tại cánh đồng Chiều Cụt giữa vợ chồng ông Đ1, bà L với cụ À.

  2. Xác định di chúc lập ngày 12/2/2005 của cụ Vũ Thị À là hợp pháp một phần.

  3. Xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Đ3 là ngày 10/9/1990; thời điểm mở thừa kế của cụ À là ngày 06/12/2006. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ3 gồm 3 người là cụ Vũ Thị À, bà Trần Thị N1, bà Trần Thị N. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Vũ Thị À gồm bà Trần Thị N, bà Trần Thị N1.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Cùng ngày 23/9/2024, nguyên đơn bà Trần Thị N kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không công nhận di chúc của cụ À lập ngày 12/02/2005 đồng thời chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất 560 cùng các tài sản trên đất và phần đất nông nghiệp, bà đề nghị được hưởng bằng hiện vật. Đề nghị áng trích công sức của bà đối với đất nông nghiệp và xem xét lại chi phí công sức tôn tạo, bảo quản di sản của vợ chồng bà N1, ông T2 cho phù hợp.

Người đại diện theo ủy quyền của anh T3 là ông Vũ Trọng T2 kháng cáo một phần bản án về cách phân chia vị trí cho bà N có mặt phía trước và phía sau mới đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên.

Trên cơ sở yêu cầu của bà N, Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định di chúc ngày 12/02/2005. Tại bản giám định số 03/2025/TTTVGDDS ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Trung tâm T18 đã kết luận “Mực bút bi xanh nhạt (A1) trên trang 1 và trang 2 trong “Di chúc ngày 12/02/20005” của cụ Vũ Thị À do ông Đặng Quang T5 viết hộ, có chữ viết họ tên của hai người làm chứng là ông Đỗ Văn Y và ông Trần Văn D không được viết vào khoảng tháng 02 năm 2005 mà được viết vào khoảng tháng 6 năm 2008 (sai số 3 tháng).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N trình bày: Các tài liệu gồm giấy ủy quyền ngày 21/6/1999; Đơn xin chuyển quyền thừa kế ngày 23/6/1999 và Giấy họp gia đình nội ngoại gia tộc ngày 04/02/2005 có nhiều mâu thuẫn về nội dung, một số người làm chứng đã chết hoặc không còn minh mẫn, tại phiên tòa ông T16, ông D, bà N2 trình bày không được tham gia cuộc họp gia đình nên không đủ cơ sở để chứng minh việc cụ À có định đoạt để lại di sản cũng như không đảm bảo tính liên quan để bổ trợ cho di chúc năm 2005. Đối với bản di chúc ngày 12/02/2005, theo lời khai của những người làm chứng bà N2, bà K1 thể hiện cụ À không biết chữ; bà N4, ông K2, ông G xác định cụ À đến ở nhà bà N trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến hết tháng 04 năm 2005. Ngoài ra, di chúc còn nhiều nội dung không phù hợp với thực tế (tuổi của cụ À, đặc điểm ngôi nhà) và không đảm bảo về hình thức do không được chứng thực tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hơn nữa, tại bản giám định của Trung tâm T18 đã kết luận bản di chúc được thiết lập vào thời điểm năm 2008 (sau khi cụ À chết) càng chứng minh các văn bản mà phía bị đơn xuất trình đều là giả mạo, không đúng với ý chí của cụ. Bản thân ông T2, bà N1 ở cạnh di sản nên không mất nhiều công sức và được sử dụng, thu hoạch hoa lợi trong quá trình trông nom, quản lý di sản. Do vậy, nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo để nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định di chúc ngày 12/02/2005 không hợp pháp, xem xét lại giá trị công sức trông nom, vượt lập, quản lý di sản, giá trị sửa chữa ngôi nhà trên đất, tính công sức của bà N đối với phần đất nông nghiệp, đồng thời phân chia di sản của cụ Đ3 và cụ À theo quy định pháp luật. Bà N có nguyện vọng được tiếp tục sử dụng thửa đất nông nghiệp ở Đ Trại để thuận tiện trong việc canh tác. Đối với nội dung anh T3 kháng cáo về vị trí phân chia, bà N không đồng ý vì di chúc không hợp pháp nên anh T3 không được hưởng và không liên quan đến di sản mà cụ À để lại.

Ông T2 là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Trường T3 trình bày: thửa đất mà Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà N có mặt tiền 5,7m giáp đường thôn, phần đất phía sau giao anh T3 là khu vực đống, bỏ hoang nhiều năm (giáp đường xóm, có giá trị thấp hơn) nên anh T3 kháng cáo bản án sơ thẩm về việc phân chia vị trí đất cho bà N. Việc bà N đề nghị được quản lý, sử dụng phần đất nông nghiệp tại khu vực Đ Trại, gia đình không đồng ý vì thực tế bà N đã không canh tác từ nhiều năm nay, bên cạnh đó khu vực Đ Trại là khu vực ruộng loại 1 nên giá trị đất nông nghiệp cao hơn so với các vị trí khác.

Người đại diện theo ủy quyền của bà N1 xác định bản giám định không có giá trị pháp lý vì Trung tâm tư vấn, giám định dân sự - Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam là đơn vị ngoài công lập trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả theo quy định tại Điều 14 Luật giám định tư pháp. Bên cạnh đó, di chúc ngày 12/02/2005 đảm bảo điều kiện về hình thức, nội dung theo quy định của Bộ luật dân sự 1995 nên hoàn toàn hợp pháp. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo bà N, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Đối với nội dung kháng cáo của anh T3 đề nghị xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà N, anh T3. Giữ nguyên Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 09/9/2024 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà N. Anh T3 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn bà N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh T3 trong hạn luật định, bà N được miễn nộp tạm ứng án phí còn anh T3 đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo của những người này là hợp lệ.

Tại phiên tòa vắng mặt anh T3, ông Đ1, bà L, trưởng thôn Ngọc L6 và một số người làm chứng nhưng anh T3 có người đại diện theo uỷ quyền có mặt, ông Đ1, bà L, trưởng thôn Ngọc L6 và những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần và có lời khai rõ ràng, đầy đủ trong hồ sơ vụ án nên căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[2] Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Theo bản đồ 299 và sổ mục kê năm 1982 thể hiện thửa đất số 329 tờ bản đồ số 02 có địa chỉ xã N, huyện T diện tích 1.284m² loại đất T- Thổ cư đứng tên chủ sử dụng Trần Văn Đ3. Trong quá trình sử dụng, các đương sự đều thống nhất và không ý kiến gì về việc hai cụ bán đi một phần đất cho cụ Trần Thị V (hiện do con gái là bà Vũ Thị N2 đang quản lý, sử dụng), bán một phần đất cho bà Lê Thị T4 và chia cho bà N phần diện tích 256 m². Đến ngày 11/12/1991, UBND tỉnh H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Vũ Thị À thể hiện tại thửa đất số 560, tờ bản đồ số 02, diện tích 958 m² (trong đó 300m² đất ở, 120m² đất vườn và 538 m² đất vườn thừa lâu dài); Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đo vẽ theo hiện trạng diện tích là 1.028m², tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do sai số đo đạc, tính toán diện tích qua các thời kỳ. Xét thấy hiện trạng được sử dụng ổn định, phân định ranh giới rõ ràng và không có tranh chấp mốc giới với các hộ giáp ranh, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thì đất ao, đất vườn trước đây đều được xác định là đất trồng cây lâu năm. Trên diện tích đất này các cụ có tạo lập được 01 gian nhà cấp bốn, 01 bể nước cũ, 01 cây mít, 01 cây nhãn. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định thửa đất 560, tờ bản đồ số 02 (nay là thửa đất 497, tờ bản đồ 16) diện tích 1.028m² (trong đó 300 m² đất ở x 5.000.000đồng/m², 728 m² đất trồng cây lâu năm x 2.500.000đồng/m²) trị giá 3.320.000.000 đồng và 01 gian nhà cấp bốn trị giá 20.089.304 đồng, 01 bể nước cũ, 01 cây mít trị giá 460.000 đồng, 01 cây nhãn trị giá 1.500.000 đồng là tài sản chung của cụ Đ3 và cụ À. Tổng giá trị là 3.342.049.304 đồng.

[3] Xét kháng cáo của bà N liên quan đến tính giá trị sửa chữa nhà, giá trị công sức trông nom, vượt lập, quản lý di sản, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Trong vụ án này, bà N và vợ chồng ông T2, bà N1 đều xác định có việc ông T2, bà N1 sửa chữa nhà cho cụ À nhưng không thống nhất được số tiền sửa chữa. Ông T2, bà N1 cũng không đưa ra được hóa đơn, chứng từ; bà N cũng không đưa được ra căn cứ chứng minh chi phí sửa chữa nhà cụ thể nên Tòa án cấp sơ thẩm áng trích 40% giá trị ngôi nhà theo giá mà Hội đồng định giá để trả công sửa chữa nhà cho ông T2, bà N1 (20.089.304đồng x40% = 8.035.721đồng) là thỏa đáng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[3.2.] Đối với công sức quản lý, san lấp, vượt lập di sản: Xét về thực tế trong quá trình quản lý, sử dụng vợ chồng ông T2, bà N1 có tiến hành san lấp, vượt lập thửa đất và có công sức trông nom, quản lý di sản của cụ Đ3, cụ À từ năm 2006 đến nay là gần 20 năm. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áng trích công sức cho ông T2, bà N1 số tiền 600 triệu (tương ứng với 18% tổng giá trị di sản của cụ À và cụ Đ3) và phần diện tích ông T2, bà N1 có công san lấp, vượt lập là 748m³ theo kết luận của Hội đồng định giá thành phố H có giá trị là: 134.640.000₫ là hoàn toàn phù hợp.

[4] Xét kháng cáo của bà N liên quan đến việc đánh giá tính hợp pháp của di chúc lập ngày 12/2/2005 và kháng cáo của anh T3 đối với vị trí phân chia di sản, Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà N1 cung cấp các văn bản giấy ủy quyền ngày 21/6/1999, đơn xin chuyển quyền thừa kế ngày 23/6/1999; giấy họp gia đình nội ngoại gia tộc ngày 04/02/2005 và di chúc lập ngày 12/02/2005 để thể hiện trước khi chết cụ À có nguyện vọng để lại phần nhà, đất cụ đang ở cho anh T3 để làm nơi thờ cúng. Tuy nhiên, bà N1 không cung cấp được bản gốc hoặc bản sao có công chứng, chứng thực của giấy ủy quyền ngày 21/6/1999 và giấy họp gia đình nội ngoại gia tộc ngày 04/02/2005 nên không được coi là chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4.2] Xét tính hợp pháp di chúc ngày 12/02/2005: Phía nguyên đơn bà N cho rằng di chúc không hợp pháp trên cơ sở bản giám định của Trung tâm tư vấn, giám định dân sự, nội dung không đúng so với thực tế (tuổi của cụ À, đặc điểm ngôi nhà), lời khai của người làm chứng về việc cụ À không biết chữ và cụ À ở nhà bà N vào thời điểm từ tháng 01 đến tháng 4 năm 2005. Tuy nhiên, tại phiên tòa xét xử công khai người làm chứng bà N2, bà K1 xác định cụ À không biết chữ chỉ dựa vào việc cụ điểm chỉ và nhờ đọc hộ mà không đưa ra được căn cứ chứng minh. Những người làm chứng khác như bà N4, ông K2, ông G xác nhận việc cụ À ở nhà bà N từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2005 nhưng không nắm được trong thời gian này cụ có đi đâu khác hay không vì vậy các chứng cứ này không có ý nghĩa phủ định lại việc cụ À có lập bản di chúc ngày 12/2/2005. Đối với bản giám định của Trung tâm T19 được coi là chứng cứ khi được xem xét một cách toàn diện và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Mặc dù di chúc có một số nội dung không phù hợp với thực tế (tuổi của cụ À, đặc điểm của ngôi nhà) nhưng không làm ảnh hưởng đến bản chất, ý chí nguyện vọng của cụ À về việc để lại di sản cho anh T3. Bởi lẽ, ông T5 là người viết di chúc, ông D là người chứng kiến đều cam kết việc lập di chúc trên cơ sở ý chí định đoạt và chữ ký "À" cuối bản di chúc là của cụ À. Điều này hoàn toàn phù hợp với đơn xin chuyển quyền thừa kế ngày 23/6/1999, xác nhận của ông Nguyễn Đức L7 về việc cụ đã chuyển quyền thừa kế thửa đất cho anh T3. Theo quy định tại Điều 659 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về Di chúc bằng văn bản có người làm chứng “Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc, thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc”. Di chúc nêu trên được lập bằng văn bản có sự chứng kiến của 3 người làm chứng là ông Đỗ Văn Y; ông Trần Văn D và ông Đặng Quang T5. Xét thấy, hình thức của di chúc phù hợp quy định của pháp luật; nội dung của bản di chúc không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, và đúng theo ý chí định đoạt của cụ Á, nên có đủ cơ sở xác định di chúc lập ngày 12/2/2005 là thực tế và hợp pháp theo quy định tại Điều 649; 650; 652; 653; 655; 656; 657; 659 Bộ luật dân sự năm 1995.

Như đã phân tích ở trên thửa đất 560, tờ bản đồ số 02 (nay là thửa đất 497, tờ bản đồ 16) diện tích là 1.028m² (trong đó 300 m² đất ở, 728 m² đất trồng cây lâu năm) và 01 gian nhà cấp bốn, 01 bể nước, 01 cây mít, 01 cây nhãn là tài sản chung của cụ Đ3 và cụ À. Cụ Đ3 chết năm 1982 không để lại di chúc nên cụ À chỉ được định đoạt đối với phần tài sản mà mình được hưởng (gồm 1/2 tài sản chung và kỷ phần thừa kế được hưởng từ cụ Đ3) nên di chúc lập ngày 12/2/2005 chỉ có hiệu lực tương ứng với phần tài sản của cụ À được hưởng theo quy định.

[4.4]. Về hàng thừa kế: Cụ Trần Văn Đ3, sinh năm 1919, chết năm 1982 và cụ Vũ Thị À, sinh năm 1914, chết năm 2006. Hai cụ sinh được 04 người con gồm: ông Trần Văn K (chết trước khi bà N1 ra đời năm 1948, không có vợ con), bà Trần Thị N1, ông Trần Văn M (sinh năm 1958, chết năm 1977, không có vợ, con) và bà là Trần Thị N. Ngoài ra cụ Đ3, cụ À không có con nuôi, con riêng, con chung nào khác. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ3 tại thời điểm mở thừa kế của cụ Đ3 gồm: cụ Vũ Thị À, bà Trần Thị N, bà Trần Thị N1. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ À tại thời điểm mở thừa kế của cụ À gồm 02 người: Bà Trần Thị N1; Bà Trần Thị N.

[4.5]. Về di sản thừa kế: Tổng giá trị công sức trông nom, quản lý di sản, san lấp, vượt lập, sửa chữa nhà cho cụ À của vợ chồng ông T2, bà N1 là: 742.675.721đ, tương đương với: 40m² đất ở và 217 m² đất TCLN (đã làm tròn). Như vậy, di sản của cụ Đ3 và cụ À sau khi trích trả công sức quản lý, san lấp, vượt lập, sửa chữa nhà cho vợ chồng ông T2, bà N1 còn lại để phân chia là 260m² đất ở trị giá 1.300.000.000đ và 511 m² đất TCLN (đã làm tròn) trị giá 1.277.500.000đ và các tài sản trên đất gồm 01 nhà cấp 4 trị giá 20.089.304đ; 01 cây nhãn trị giá 1.500.000đ, 01 cây mít trị giá 460.000đ, 01 bể nước cũ các đương sự không đề nghị định giá sau này chia cho ai người đó sẽ được hưởng. Tổng giá trị di sản của cụ Đ3, cụ À còn lại để phân chia là: 2.599.549.304đ. Cụ Đ3, cụ À mỗi người được hưởng ½ giá trị cụ thể: Cụ Đ3 được hưởng: 130m² đất ở và 255,5m² đất TCLN; Cụ À được hưởng 130m² đất ở và 255,5m² đất TCLN và giá trị tài sản trên đất mỗi người được hưởng là: 11.024.652đ. Tòa án cấp sơ thẩm có sự nhầm lẫn khi xác định phần di sản còn lại sau khi trừ đi công sức trông nom, quản lý di sản, san lấp, vượt lập, sửa chữa nhà của vợ chồng ông T2, bà N1 nên Hội đồng xét xử sẽ sửa nội dung này cho phù hợp.

[4.6] Về việc chia di sản bằng hiện vật:

Di sản của cụ Đ3 để lại là 130m² đất ở và 255,5m² đất TCLN và giá trị tài sản trên đất được hưởng là 11.024.652đ được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ3 gồm cụ À, bà N, bà N1, mỗi người được hưởng kỷ phần 43,33 m² đất ở, 85,17 m² đất TCLN và giá trị công trình 3.674.884đ, tổng giá trị mỗi kỷ phần là 433.249.884₫.

Di sản của cụ À: Ngoài kỷ phần thừa kế được hưởng từ cụ Đ3 thì cụ À còn được hưởng ½ giá trị tài sản chung của vợ chồng 130m² đất ở và 255,5m² đất TCLN và giá trị tài sản trên đất được hưởng là 11.024.652đ. Tổng cộng giá trị của cụ À là 1.733.024.536đ. Như đã nhận định ở trên, di chúc lập ngày 12/2/2005 có hiệu lực đối với phần tài sản mà cụ À được hưởng nên cần giao cho anh T3 được quyền quản lý, sử dụng phần di sản của cụ À. Trong quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng bà N1, ông T2 tự nguyện tặng cho anh T3 toàn bộ kỷ phần thừa kế mà bà N1 được hưởng từ cụ Đ3; phần công sức san lấp, vượt lập, trông coi, quản lý di sản. Chính vì vậy, tổng giá trị mà anh T3 được hưởng từ việc cụ À định đoạt trong di chúc lập ngày 12/2/2005 và từ việc vợ chồng bà N1, ông T2 cho là 257 m² đất ở và 641 m² đất trồng cây lâu năm trị giá 2.887.500.000đ và giá trị công trình 18.374.420đ.

Xét nội dung kháng cáo của anh T3 về việc phân chia vị trí đất cho bà N, HĐXX xét thấy: Hiện trạng thửa đất trên có đủ diện tích để chia bằng hiện vật, theo biên bản đo vẽ hiện trạng thửa đất của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương thể hiện: Thửa đất đang tranh chấp có chiều dài cạnh giáp mặt đường thôn A20A21A22A23A41A42, phần đất được giới hạn bởi các điểm A19A20A38A13A15A16A17A18 là phần đất của bà N1, ông T2. Ngoài ra, trong quá trình quản lý, sử dụng bà N1 và ông T2 có xây dựng các công trình trên phần đất tranh chấp như sân bê tông, tường bao xây gạch chỉ, cánh cổng, trụ cổng và một số cây cối trên đất; ông T2, bà N1 tự nguyện cho anh T3 toàn bộ tài sản trên phần đất anh T3 được hưởng. Bên cạnh đó, bà N được hưởng kỷ phần thừa kế của cụ Đ3 là 43,33 m² đất ở, 85,17 m² đất TCLN và giá trị công trình 3.674.884đ, tổng giá trị là 433.249.884đ. Để đảm bảo việc phân chia đất tương ứng với kỷ phần thừa kế mà bà N được hưởng cũng như phạm vào ít nhất các công trình mà phía gia đình ông T2 đã xây dựng, Tòa án cấp sơ thẩm phân chia cho bà N 130 m² (trong đó 43 m² đất ở và 87 m² đất trồng cây lâu năm) được giới hạn bởi các điểm A40A41A42 A43A44A36A39 là hoàn toàn hợp lý. Do vậy, không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh T3, HĐXX quyết định vẫn giữ nguyên việc phân chia đất cho bà N, anh T3 theo bản án sơ thẩm, cụ thể:

+ Giao cho bà Trần Thị N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 130m² (trong đó: 43m² đất ở và 87 m² đất TCLN) tại thửa đất số 560, tờ bản đồ 02 (nay là thửa đất số 497, tờ bản đồ số 14); Địa chỉ: Thôn N, xã N, thành phố H, tỉnh Hải Dương trị giá 432.500.000đ, được giới hạn bởi các điểm A40A41A42A37A43A44A36A39 (sơ đồ đo vẽ kèm theo) trên đất có các tài sản gồm: 01 cây nhãn đường kính tán 4m trị giá 1.300.000đ; 01 cây nhãn đường kính tán 5m trị giá 1.500.000đ; 39 cây chuối đường kính gốc lớn hơn 15cm trị giá 1.365.000đ; 01 cây bưởi đường kính gốc 20cm trị giá 250.000đ; 01 đoạn tường bao (đoạn A43 đến A44) khối lượng là 0.25m³ (đã làm tròn) trị giá 171.375đ; 01 đoạn tường bao (đoạn A44 đến A39) khối lượng 2.34 m³ trị giá 1.604.111đ; 01 đoạn tường bao (đoạn A41 đến A42) có khối lượng 1.60m³ (đã làm tròn) trị giá là 1.096.000đ và một số đoạn tường xây, đoạn tường lợp ngói P1 làm chuồng gà. Bà N phải có trách nhiệm trả tiền cây cối, công trình xây dựng trên đất mà mình được hưởng cho ông T2, bà N1 số tiền là 7.286.486đ.

Do giá trị phần đất mà bà N được chia ít hơn so với phần di sản mà bà N được hưởng, vì vậy anh Vũ Trường T3 phải có trách nhiệm trả cho bà N 433.249.884₫ - 432.500.000₫ = 749.884₫.

+ Giao cho anh Vũ T17 Tam được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 898m² (Trong đó: 257 m² đất ở và 641 m² đất TCLN) trị giá 2.887.500.000đ tại thửa đất số 560, tờ bản đồ 02 (nay là thửa đất số 497, tờ bản đồ số 14); Địa chỉ: Thôn N, xã N, thành phố H, tỉnh Hải Dương được giới hạn bởi các điểm A1A2A3A4A5A6A10A9A11A12A13 A38A20A21A22A23A41A40A39A36A28A29A30A31A32A33A34A3 (sơ đồ đo vẽ kèm theo) trên đất có các tài sản gồm: Di sản là tài sản trên đất của cụ Đ3, cụ À: 01 nhà cấp 4 hai gian trị giá 20.089.304₫, 01 cây mít trị giá 460.000đ; 01 cây nhãn trị giá 1.500.000đ; 01 bể nước; Tổng tài sản trên đất của cụ Đ3, cụ À anh T3 được hưởng là: 22.049.304đ. Chấp nhận sự tự nguyện của bà N1, ông T2 tự nguyện cho anh T3 toàn bộ tài sản trên phần đất của ông T2, bà N1 gồm: Sân bê tông gạch vỡ khối lượng 3.762m3 có giá trị là: 1.239.872đ; Tường bao xây gạch chỉ đặc khối lượng 27.20m3 có giá trị là: 18.646.078đ. Trụ cổng xây gạch chỉ năm 2017 khối lượng 1,12m3 có giá là: 767.780đ; Cánh cổng hoa sắt vuông khối lượng 3,6m2 trị giá 540.000đ; 01 cây bưởi đường kính gốc 30cm trị giá 300.000đ; 03 cây bưởi đường kính gốc 20cm trị giá 750.000đ; 07 cây bưởi đường kính gốc 10cm trị giá 1.050.000đ; 03 cây bưởi đường kính gốc 5cm trị giá 300.000đ; 04 cây hồng xiêm đường kính tán 1,5m trị giá 720.000đ; 01 cây bơ đường kính gốc nhỏ hơn 20cm trị giá 150.000đ; 01 cây roi đường kính gốc 10cm trị giá 200.000đ; 02 cây mít đường kính gốc 20cm trị giá 700.000đ; 01 cây mít đường kính gốc 5cm trị giá 200.000đ; Gấc giàn 30m2 trị giá 360.000đ; 01 cây cam đường kính tán 5m trị giá 250.000đ; 01 cây chanh đường kính tán 2m trị giá 90.000đ; 02 cây thanh long trị giá 140.000đ; 01 cây trứng gà đường kính gốc 50cm trị giá 150.000đ; 241 cây chuối đường kính gốc lớn hơn 15cm trị giá 8.435.000đ.Tổng giá trị tài sản của ông T2, bà N1 xây dựng và làm trên phần đất anh T3 được hưởng là: 34.988.730đ. Ngoài ra, anh T3 còn được quản lý, sử dụng 01 cây hương, các đoạn tường xây trên đất do ông T2, bà N1 xây dựng trên phần đất được chia.

Chấp nhận sự tự nguyện của bà N1, ông T2 tự nguyện cho anh T3 toàn bộ tài sản trên phần đất của ông T2, bà N1 mà anh T3 được hưởng. Anh T3 không phải trả tiền cây cối, công trình xây dựng trên đất mà mình được hưởng cho ông T2, bà N1. Anh T3 phải có trách nhiệm trả bà N số tiền chênh lệch về tài sản trên đất với số tiền là: 3.674.884₫.

Tổng số tiền anh T3 phải trả cho bà N là 4.424.768₫

Bà N, anh T3, bà N1, ông T2 phải tự tháo dỡ hoặc di dời cây cối, công trình trên đất, các bức tường xây trên đất nếu tài sản trên đất nằm trùng đường ranh giới phân chia đất giữa các bên đương sự.

1.11. Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 405/3, tờ bản đồ 08, diện tích 162m² tại cánh đồng Chiều Cụt; Địa chỉ thôn N, xã N, thành phố H giữa cụ Vũ Thị À và ông Nguyễn Văn Đ1, bà Nguyễn Thị L. Công nhận ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị L được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 405/3, tờ bản đồ 08, diện tích đất 162 m² tại cánh đồng Chiều Cụt; Địa chỉ thôn N, xã N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có phía Bắc giáp ông C1, phía Nam giáp ông T9, phía Tây giáp đường đất, phía Đông giáp ông Đ1), diện tích thửa đất được giới hạn bởi các điểm A1A2A3A4A5 (sơ đồ kèm theo) trên đất có những tài sản gồm 04 cây bưởi đường kính gốc 5cm có giá 290.000đ; 01 cây xoan đường kính gốc 9cm có giá là 20.000đ; 03 cây mít đường kính gốc 9cm có giá là 540.000₫.

1.12. Phân chia hiện vật đối với diện tích đất nông nghiệp là di sản của cụ À và xác định diện tích đất nông nghiệp của anh T3:

- Giao cho bà Trần Thị N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất nông nghiệp (đất cấy hàng năm) 84m² trị giá 7.980.000đ tại thửa 236/36 tại cánh đồng Đường M; Địa chỉ: Thôn N, xã N, TP H, tỉnh Hải Dương.

- Giao cho bà Trần Thị N1 được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất nông nghiệp 141m² trị giá 13.395.000đ tại thửa 193/1 tại cánh đồng C; Địa chỉ: Thôn N, xã N, TP H, tỉnh Hải Dương.

Bà N1 phải có trách nhiệm trả cho bà N số tiền chênh lệch về diện tích đất nông nghiệp mà bà N1 được hưởng nhiều hơn bà N là 2.707.500đ.

Chấp nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị N1 cho anh Vũ T17 Tam diện tích đất nông nghiệp 141m² tại cánh đồng C là di sản của cụ À mà bà N1 được hưởng trị giá 13.395.000đ.

- Xác định diện tích đất nông nghiệp được chia theo tiêu chuẩn của anh Vũ T17 Tam là 322m² ở cánh đồng Thành Trại, 64m² ở cánh đồng C và diện tích đất nông nghiệp 141m² (là di sản thừa kế của cụ À mà bà N1 được hưởng và tự nguyện tặng cho anh T3) tại cánh đồng C; Đều có địa chỉ: Thôn N, xã N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Tổng diện tích đất nông nghiệp anh T3 được quản lý sử dụng là 527m². Kích thước các cạnh, tứ cận các thửa đất nông nghiệp theo sơ đồ kèm theo bản án.

Bà N phải có trách nhiệm trả anh T3 số tiền 23.750₫ (Hai mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng) tương đương với 0,25m² đất nông nghiệp mà cụ À được hưởng nhiều hơn anh T3. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T3 không yêu cầu bà N1 trả số tiền 23.750đ (Hai ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng).

Bà N, anh T3, ông Đ1, bà L có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền trên mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

1.13. Về án phí dân sự sơ thẩm: Hoàn trả bà N 2.395.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0005065 ngày 26/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

2. Về lệ phí giám định: Bà N phải chịu lệ phí giám định đã nộp tại Trung tâm T18 các hội KH&KT Việt Nam.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà N. Anh T3 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được đối trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí do ông Vũ Trọng T2 đã nộp thay theo biên lai số 0006174 ngày 07/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

4. Các nội dung khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND thành phố Hải Dương;
  • -TAND thành phố Hải Dương;
  • - Chi cục THADS TP Hải Dương;
  • -Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa GD&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 34/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger