|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-3-2025
V/v "Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia
Ông Trịnh Ngọc Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh– Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 486/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm: 1977
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai
Bị đơn: Ông Cao Văn H, sinh năm 1979
Địa chỉ: Tổ 1, ấp D, xã N, huyện T, Đồng Nai
(Bà T, ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 31/5/2004, việc kết hôn của vợ chồng là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép, lừa dối.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tình tình vợ chồng không còn phù hợp với nhau nên thường xuyên xảy ra cự cãi và xung đột, cuộc sống không có hạnh phúc. Vợ chồng bà đã không còn sống chung với nhau từ năm 2017 cho đến nay. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể về sống chung với nhau được nữa vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với ông H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên là Cao Văn H1 – sinh ngày 28/02/2005 và Cao Thị Thu H2 – sinh ngày 31/3/2006. Các con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.
Lời trình bày của ông Cao Văn H như sau:
Về quan hệ hôn nhân: ông và bà T tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2004, đăng ký kết hôn tại UBND xã N (cũ), huyện T, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 31/5/2004. Vợ chồng anh sống hạnh phúc đến năm 2017 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong vấn đề kinh tế gia đình. Từ năm 2017 cho đến nay ông và bà T đã không còn sống chung với nhau. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên là Cao Văn H1 – sinh ngày 28/02/2005 và Cao Thị Thu H2 – sinh ngày 31/3/2006. Các con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án chứng cứ gồm: Căn cước công dân (bản sao), giấy chứng nhận kết hôn (bản sao), bản tự khai của nguyên đơn.
Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành thu thập những tài liệu, chứng cứ sau: đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt của nguyên đơn; biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng;
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Do nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về đường lối giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 85, 91, 92, 93 luật hôn nhân gia đình năm 2000; các Điều 19, 51, 56 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn với ông H.
- + Về con chung: các con đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
- + Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không giải quyết.
- + Về án phí: Bà T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1]. Ông H có nơi cư trú tại xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân huyện Tân Phú có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.
[1.2]. Bà T có đơn khởi kiện ly hôn với ông H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn” và xác định bà T là nguyên đơn, ông H là bị đơn.
[1.3]. Bà T, ông H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông H tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2004 và được được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 31/5/2004. Như vậy, hôn nhân giữa bà T, ông H được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay bà T yêu cầu ly hôn, thì Tòa án áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết.
Trên cơ sở lời khai của đương sự thể hiện: Bà T yêu cầu ly hôn với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa hợp và thường xuyên xảy ra cự cãi, xung đột. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Lời khai của bà T về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng được bị đơn ông H thừa nhận, bản thân ông H cũng đồng ý ly hôn với bà T, tuy nhiên ông H không đến Tòa án làm việc và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Như vậy, có căn cứ xác định bà T, ông H đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để bà T và ông H có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của bà T, cho bà T được ly hôn với ông H.
[2.2]. Về con chung: Bà T, ông H có 02 con chung tên là Cao Văn H1 – sinh ngày 28/02/2005 và Cao Thị Thu H2 – sinh ngày 31/3/2006. Xét thấy, hiện cháu H1, cháu H2 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T, ông H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000₫.
Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 85, 91, 92, 93 luật hôn nhân gia đình năm 2000; các Điều 19, 51, 56 và Điều 131 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết .
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Cao Văn H.
- - Về con chung: Bà T, ông H có 02 con chung tên là Cao Văn H1 – sinh ngày 28/02/2005 và Cao Thị Thu H2 – sinh ngày 31/3/2006. Hiện cháu H1, cháu H2 đã thành niên, có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000 đồng bà T đã nộp theo biên lai thu số 0013560 ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú được chuyển thành án phí, bà T đã nộp đủ.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà T và ông H
