Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày 24 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Khanh
  • Ông Phạm Đức Mạnh
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên là điểm cầu trung tâm và Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh H là điểm cầu thành phần. Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1987

Nơi sinh và nơi cứ trú: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 ( đã chết) và bà Nguyễn Thị K; Vợ: Nguyễn Thị T2 ( đã ly hôn); Con: Có 01 sinh năm 2011;

Tiền sự: Chưa có

Tiền án: Ngày 04/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy ( Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2024).

Nhân thân: Ngày 06/8/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử 09 tháng tù về tội Đánh bạc.

Thà bị tạm giữ từ ngày 02/01/2025, đến ngày 05/01/2025 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1964

Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1990.

Đều có địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 ở thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên là đối tượng nghiện ma túy, loại Heroine.

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào buổi trưa ngày 02/01/2025, T đi một mình xuống xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên để tìm mua ma túy. Khi đến bờ ao thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì gặp một nam thanh niên (không rõ tên, địa chỉ cụ thể). Thà hỏi mua 03 gói ma tuý, loại Heroin thì nam thanh niên này đồng ý. Thà đưa cho nam thanh niên trên 600.000 đồng và cầm 03 gói giấy bạc có chứa ma túy. Sau đó, T đi bộ đến nghĩa trang cách đó khoảng 50m và cho 01 gói ma túy vào xilanh để sử dụng bằng hình thức chích.

Sau khi sử dụng ma tuý xong, T đi về, khi đang trên đường ĐT380 thuộc địa phận thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì bị Tổ công tác thuộc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp Công an xã C kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng gồm: T3 tại túi quần bên phải của Nguyễn Văn T có: 02 gói giấy bạc đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột, được niêm phong trong phong bì đánh ký hiệu M; Thu giữ 01 túi nilon bên trong có chứa 01 xilanh chưa qua sử dụng. Xét nghiệm mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn T cho kết quả dương tính với chất ma túy, loại Heroin.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T tại thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan.

Bản thông báo giám định sơ bộ và Kết luận giám định đều số 03/KL – KTHS, ngày 02/01/2025 và ngày 05/01/2025 của phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M, có khối lượng 0,135g ma túy, loại Heroin.

Đối với 01 xilanh chưa qua sử dụng và 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 03/KTHS(MT) của phòng K1 Công an tỉnh H, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhập kho vật chứng thuộc Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với nam thanh niên Thà khai bán ma tuý cho T tại thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên và T sử dụng trái phép chất ma tuý tại đây, Cơ quan điều tra đã có công văn gửi Cơ quan CSĐT công an huyện Y đề giải quyết theo thẩm quyền.

Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo khai tàng trữ ma túy, loại Heroin với mục đích để sử dụng.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKS, ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2025.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 03/KL-KTHS (MT) của Phòng K1 - Công an tỉnh H và 01 xi lanh chưa qua sử dụng.
  • Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và lời khai người làm chứng, với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 02/01/2025, tại khu vực đường Đ trước cổng Nghĩa trang T4 thuộc thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,135 gam ma tuý, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi tàng trữ 0,135g ma túy loại Heroin để sử dụng như nêu ở trên của Nguyễn Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy nói chung và H nói riêng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hiện nay, các tội phạm về ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Ma túy đang là mối hiểm họa của toàn xã hội nên Nhà nước đã có nhiều chính sách từ tuyên truyền, vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến ma túy. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm xử 09 tháng tù về tội Đánh bạc và năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bản thân bị cáo là người nghiện ma túy biết rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật, không coi trọng sức khỏe của bản thân, vì vậy đối với hành vi phạm tội lần này của bị cáo cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời

gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy không có công việc, thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 03/KL-KTHS (MT) của Phòng K1, Công an tỉnh H và 01 xi lanh chưa qua sử dụng.

Đối với đối tượng T khai bán trái phép chất ma túy cho T tại thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan CSĐT – Công an huyện V đã xác minh nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan CSĐT – Công an huyện V cũng đã có công văn đến Cơ quan CSĐT – Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên để giải quyết theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 47; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 1 năm 09 tháng tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2025.

Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 03/KL-KTHS (MT) của Phòng K1, Công an tỉnh H và 01 xi lanh chưa qua sử dụng.

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (Phòng KTNV và THA);
  • - VKS huyện Văn Lâm;
  • - Công an huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger