|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/DS-ST Ngày 21-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Nam Lê Thiện;
- Ông Trần Đình Thừa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2025/TLST-DS ngày 17/01/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-DS ngày 24/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (O); địa chỉ: Tòa nhà T số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp: Ông Lưu Đức T; địa chỉ: Lầu B, số A đường T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 19/3/2025); (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Quang H, sinh năm 1977 và bà Hồ Thị Anh Đ, sinh năm 1976; địa chỉ: Số C N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 25/11/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P là ông Lưu Đức T trình bày:
Ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ đã ký kết với Ngân hàng TMCP P (gọi tắt là O) các Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598.01/2022/PGV/PLHĐTD ngày 15/09/2022, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL1 ngày 13/10/2023; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL2 ngày 13/04/2024; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD 23/12/2022; Hợp đồng tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023. Thực hiện theo hợp đồng Ngân hàng TMCP P đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho ông H và bà Đ theo các khế ước nhận nợ chi tiết như sau:
Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 26/08/2022: Số tiền vay: 300.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua BĐS có thửa đất số 266, tờ bản đồ số 65, địa chỉ: thôn S, xã C, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Thời hạn vay: 300 tháng; Lãi suất vay: 10,99%/năm, lãi suất có điều chỉnh; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 07/09/2022: Số tiền vay: 3.000.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua BĐS có thửa đất số 266, tờ bản đồ số 65, địa chỉ: thôn S, xã C, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Thời hạn vay: 300 tháng; Lãi suất vay: 10,99%/năm, lãi suất có điều chỉnh; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Khế ước nhận nợ số ST22035052/2022/PGV/KUNN ngày 23/12/2022: Số tiền vay: 200.000.000 đồng; Mục đích vay: Vay tiêu dùng có TSBĐ; Thời hạn vay: 60 tháng; Lãi suất vay: 17,5%/năm, lãi suất có điều chỉnh; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Khế ước nhận nợ số ST23015012/2023/PGV/KUNN ngày 08/06/2023: Số tiền vay: 110.000.000 đồng; Mục đích vay: Vay tiêu dùng có TSBĐ; Thời hạn vay: 120 tháng; Lãi suất vay: 13%/năm, lãi suất có điều chỉnh; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Ngoài ra, Ngân hàng TMCP P còn cấp tín dụng cho ông H và bà Đ theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022 với hạn mức phê duyệt thẻ tín dụng là 93.000.000 đồng.
Khoản vay có tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 266, tờ bản đồ số 65, tọa lạc thôn S, xã C, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 938062, số vào sổ cấp GCN: CS 04148 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/08/2017, cập nhật biến động lần cuối ngày 09/09/2022 theo Hợp đồng thế chấp số ST22025591/2022/PGV/HĐTC ngày 15/09/2022 giữa OCB với ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ, số công chứng 4099 tại Văn phòng C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong các Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022; Khế ước nhận nợ được ký kết giữa OCB với ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ. Tạm tính đến ngày 21/3/2025, ông H và bà Đ còn nợ OCB tổng số tiền 3.679.903.130 đồng, trong đó: Nợ gốc là 3.281.959.789 đồng, nợ lãi 274.943.332 đồng, nợ thẻ: 123.000.000 đồng.
Do ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP P khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598.01/2022/PGV/PLHĐTD ngày 15/09/2022, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL1 ngày 13/10/2023; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL2 ngày 13/04/2024; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD 23/12/2022; Hợp đồng tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 26/08/2022; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 07/09/2022; Khế ước nhận nợ số ST22035052/2022/PGV/KUNN ngày 23/12/2022; Khế ước nhận nợ số ST23015012/2023/PGV/KUNN ngày 08/06/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022 tạm tính đến ngày 21/3/2025 là 3.679.903.130 đồng trong đó: Nợ gốc 3. 281.959.789 đồng, nợ lãi 274.943.332 đồng, nợ thẻ 123.000.000 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng và các Khế ước nhận nợ đã ký kết từ ngày 22/3/2025 cho đến khi ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P.
- Trường hợp ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng TMCP P.
- Tại bản tự khai ngày 22/01/2025, bị đơn ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ trình bày:
Vợ chồng ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ thống nhất với Ngân hàng TMCP P về việc ký kết các Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD ngày 23/12/2022; Hợp đồng tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022. Thực hiện theo hợp đồng O đã giải ngân cho ông H và bà Đ đủ số tiền vay.
Để đảm bảo cho khoản vay tại O, vợ chồng ông H và bà Đ thế chấp cho OCB tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 266, tờ bản đồ số 65 tọa lạc thôn S, xã C, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 938062 Số vào sổ cấp GCN: CS 04148 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/08/2017, cập nhật lần cuối ngày 09/09/2022. Do tình hình kinh tế khó khăn nên ông H và bà Đ không thể thanh toán khoản nợ đúng hạn cho OCB. Nay đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của O thì ông H và bà Đ đồng ý. Tuy nhiên, đề nghị Ngân hàng cho ông H và bà Đ cho thời hạn 02 tháng để tìm nguồn tiền thanh toán cho Ngân hàng.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: Quyền sử dụng đất diện tích 418,6m² thuộc thửa đất 266, tờ bản đồ số 65 tọa lạc thôn S, xã C, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 938062 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/8/2017 cho ông Phạm Quang H, hiện trạng tài sản thế chấp là đất trống.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bị đơn ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Nguyên đơn Ngân hàng TMCP P cấp tín dụng cho bị đơn ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ theo Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598.01/2022/PGV/PLHĐTD ngày 15/09/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL1 ngày 13/10/2023; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL2 ngày 13/04/2024; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD 23/12/2022; Hợp đồng tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 26/08/2022; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 07/09/2022; Khế ước nhận nợ số ST22035052/2022/PGV/KUNN ngày 23/12/2022; Khế ước nhận nợ số ST23015012/2023/PGV/KUNN ngày 08/06/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022. Ngoài ra, nguyên đơn còn cấp tín dụng cho bị đơn theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022, giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022 với hạn mức phê duyệt thẻ tín dụng là 93.000.000 đồng.
Kể từ thời điểm giải ngân cho đến nay bị đơn chỉ mới thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 669.440.993 đồng, trong đó nợ gốc 140.000.000 đồng, nợ lãi 529.440.993 đồng. Dư nợ đến thời điểm hiện tại 3.679.903.130 đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ vay.
[2.2] Bị đơn thống nhất với nguyên đơn về việc ký kết các Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD ngày 23/12/2022; Hợp đồng tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế khó khăn nên bị đơn không thể thanh toán nợ đúng hạn cho Ngân hàng. Nay đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn đồng ý. Tuy nhiên, bị đơn đề nghị nguyên đơn cho bị đơn thời hạn 02 tháng để tìm nguồn tiền thanh toán.
[3] Xét, Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598.01/2022/PGV/PLHĐTD ngày 15/09/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL1 ngày 13/10/2023; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL2 ngày 13/04/2024; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD 23/12/2022; Hợp đồng tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 26/08/2022; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 07/09/2022; Khế ước nhận nợ số ST22035052/2022/PGV/KUNN ngày 23/12/2022; Khế ước nhận nợ số ST23015012/2023/PGV/KUNN ngày 08/06/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ, không thanh toán nợ đầy đủ, đúng hạn nên khoản vay đã chuyển thành khoản nợ quá hạn. Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn thống nhất số tiền còn nợ của nguyên đơn, do tình hình kinh tế khó khăn nên đề nghị Ngân hàng cho bị đơn thời hạn 02 tháng để tìm nguồn tiền thanh toán cho Ngân hàng. Tuy nhiên, đã quá thời hạn bị đơn vẫn không thanh toán được nợ cho nguyên đơn. Do, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo đúng với thỏa thuận đã ký kết với nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598.01/2022/PGV/PLHĐTD ngày 15/09/2022, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL1 ngày 13/10/2023; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL2 ngày 13/04/2024; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD 23/12/2022; Hợp đồng ngày tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 26/08/2022; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 07/09/2022; Khế ước nhận nợ số ST22035052/2022/PGV/KUNN ngày 23/12/2022; Khế ước nhận nợ số ST23015012/2023/PGV/KUNN ngày 08/06/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022, tính đến ngày 21/3/2025 số tiền 3.679.903.130 đồng, trong đó: Nợ gốc 3.281.959.789 đồng, nợ lãi 274.943.332 đồng, nợ thẻ: 123.000.000 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
[4] Đối với xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay bị đơn đã thế chấp cho nguyên đơn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất diện tích 418,6m² thuộc thửa đất 266, tờ bản đồ số 65, tọa lạc thôn S, xã C, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 938062 Số vào sổ cấp GCN: CS 04148 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/08/2017, cập nhật biến động lần cuối ngày 09/09/2022 theo Hợp đồng thế chấp số ST22025591/2022/PGV/HĐTC ngày 15/09/2022, số công chứng 4099 tại Văn phòng C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp có hiện trạng là đất trống. Quyền sử dụng đất nêu trên là tài sản của vợ chồng bị đơn ông H và bà Đ. Theo đó, bị đơn đã sử dụng tài sản trên của mình để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng. Xét, Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không trái pháp luật, tuân thủ quy định về hình thức và được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Do đó, trường hợp bị đơn ông H và bà Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng P được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất nêu trên để thu hồi nợ là phù hợp.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã đóng tạm ứng toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng). Do đó, bị đơn ông H và bà Đ phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền nguyên đơn đã tạm ứng.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch trên tổng số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 299 và 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 92, 144, 147, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P đối với ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ thanh toán cho Ngân hàng P số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598.01/2022/PGV/PLHĐTD ngày 15/09/2022, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL1 ngày 13/10/2023; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL2 ngày 13/04/2024; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD 23/12/2022; Hợp đồng tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 26/08/2022; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 07/09/2022; Khế ước nhận nợ số ST22035052/2022/PGV/KUNN ngày 23/12/2022; Khế ước nhận nợ số ST23015012/2023/PGV/KUNN ngày 08/06/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022 được ký kết giữa OCB với ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ tính đến ngày 21/3/2025 là 3.679.903.130đ (ba tỷ sáu trăm bảy mươi chín triệu chín trăm lẻ ba nghìn một trăm ba mươi đồng), trong đó:
- Nợ gốc là 3.281.959.789đ (ba tỷ hai trăm tám mươi mốt triệu chín trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi chín đồng);
- Nợ lãi 274.943.332đ (hai trăm bảy mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn ba trăm ba mươi hai đồng);
- Nợ thẻ: 123.000.000đ (một trăm hai mươi ba triệu đồng).
Tiền lãi được tiếp tục tính từ ngày 22/3/2025 cho đến khi ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ trả xong khoản nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598.01/2022/PGV/PLHĐTD ngày 15/09/2022, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL1 ngày 13/10/2023; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL2 ngày 13/04/2024; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD 23/12/2022; Hợp đồng tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 26/08/2022; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 07/09/2022; Khế ước nhận nợ số ST22035052/2022/PGV/KUNN ngày 23/12/2022; Khế ước nhận nợ số ST23015012/2023/PGV/KUNN ngày 08/06/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022.
- Trường hợp ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất diện tích 418,6m² thuộc thửa đất 266, tờ bản đồ số 65, thôn S, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 04148 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/08/2017, cập nhật biến động lần cuối ngày 09/09/2022 cho ông Phạm Quang H theo Hợp đồng thế chấp số ST22025591/2022/PGV/HĐTC ngày 15/09/2022, số công chứng 4099 tại Văn phòng C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Buộc ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ thanh toán cho Ngân hàng P số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD ngày 23/08/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598.01/2022/PGV/PLHĐTD ngày 15/09/2022, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL1 ngày 13/10/2023; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số TDCN22017598/2022/PGV/HĐTD-PL2 ngày 13/04/2024; Hợp đồng tín dụng số ST22035052/2022/PGV/HĐTD 23/12/2022; Hợp đồng tín dụng số ST23015012/2023/PGV/HĐTD ngày 08/06/2023; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 26/08/2022; Khế ước nhận nợ số TDCN22017598/2022/PGV/KUNN ngày 07/09/2022; Khế ước nhận nợ số ST22035052/2022/PGV/KUNN ngày 23/12/2022; Khế ước nhận nợ số ST23015012/2023/PGV/KUNN ngày 08/06/2023; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 07/11/2022; Giấy yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 07/11/2022 được ký kết giữa OCB với ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ tính đến ngày 21/3/2025 là 3.679.903.130đ (ba tỷ sáu trăm bảy mươi chín triệu chín trăm lẻ ba nghìn một trăm ba mươi đồng), trong đó:
- Chi phí tố tụng khác: Bị đơn ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Phạm Quang H và bà Hồ Thị Anh Đ phải chịu 105.598.063đ (một trăm lẻ năm triệu năm trăm chín mươi tám nghìn không trăm sáu mươi ba đồng). Trả lại cho Ngân hàng P 51.144.204đ (năm mươi mốt triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm lẻ bốn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007693 ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 34/2025/DS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 34/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP P
