TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/DS-ST
Ngày: 21/3/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Trịnh Ngọc Hồng
- Bà: Nguyễn Thị Bé Em
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 333/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: - Bà Trương Thị Mộng T, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Số I, khu phố B, phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Ông Trần Phước T1, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Số A, ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số F, Đ, phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre là người đại diện theo ủy quyền của bà T, ông T1. Có mặt.
+ Bị đơn: - Ông Nguyễn Văn R, sinh năm: 1984. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm: 1986. Có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số A, ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 22/7/2024, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung ngày 22/8/2024 của nguyên đơn là bà Trương Thị Mộng T, đơn khởi kiện ngày 25/7/2024 của nguyên đơn ông Trần Phước T1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Đỗ Thị P trình bày:
Giữa bà T, ông T1 và vợ chồng ông R có mối quan hệ bạn bè làm ăn từ năm 2015 nên bà T và ông T1 cho ông R, bà D vay vốn để làm ăn và chi tiêu trong gia đình, lãi suất 1%/tháng. Cụ thể:
Vào ngày 09/7/2018, ông T1 cho ông R, bà D vay số tiền là 170.000.000 đồng. Hai bên lập hợp đồng và được công chứng tại văn phòng C, thời hạn 12 tháng tính từ ngày 09/7/2018. Sau khi ký hợp đồng vợ chồng ông R đóng được tiền lãi đến tháng 6/2019 là 11 tháng là 18.700.000 đồng thì ngưng không đóng lãi nữa. Đến hạn trả nợ, vợ chồng ông R xin đóng lãi tiếp hàng tháng 1%/tháng và hẹn đến cuối năm 2021 sẽ bán đất trả nợ. Ông R đóng lãi đến tháng 11/2021 được 29 tháng số tiền 49.300.000 đồng và ngưng đóng lãi đến nay. Sau đó vợ chồng ông R cứ hứa hẹn mà không thực hiện.
Vào ngày 19/02/2020, bà T có cho ông R và bà D vay số tiền là 293.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng. Hai bên có lập hợp đồng vay có chữ ký của ông R và bà D, thời hạn vay là 06 tháng (tính từ ngày 19/02/2020 đến ngày 19/8/2020). Sau khi vay, vợ chồng ông R đóng tiền lãi cho bà T theo thoả thuận đến hạn trả nợ, ông R, bà D xin gia hạn trả nợ để đóng lãi tiếp và hẹn đến cuối năm 2023 sẽ trả vốn và lãi. Nhưng ông R, bà D đóng lãi đến tháng 12/2023 thì ngưng không đóng lãi cũng không trả vốn cho bà T.
Hai khoản tiền này không có liên quan gì nhau và là số tiền vay riêng biệt. Số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T với gia đình ông R đã được giải quyết xong bằng vụ án khác và đang thực hiện việc thi hành án. Ông R cho rằng việc vay mượn giữa bà T, ông T1 với ông R, bà D và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có liên quan trong việc cộng, gộp tiền thì đề nghị ông R cung cấp chứng cứ chứng minh.
Do ông R, bà D không thực hiện việc trả nợ vay nên ông T1, bà T làm đơn khởi kiện như sau:
- Bà T yêu cầu ông R và bà D có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền vay gốc là 293.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Ông T1 yêu cầu ông R và bà D có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền vay gốc là 170.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn là ông Nguyễn Văn R trình bày:
Giữa ông với vợ chồng bà T, ông T1 có mối quan hệ bạn bè làm ăn từ năm 2015, ông vay tiền của bà T nhiều lần, mỗi lần khoản 3.000.000 đồng có khi 5.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng, khi vay bà T sẽ ghi vào sổ của bà thu. Số tiền vay được cộng dồn lại, ông đóng lãi mỗi tháng. Đến năm 2020, do kinh tế khó khăn nên bà T gộp hết tất cả các khoản nợ lại cộng tiền lãi ông vay từ năm 2015 đến ngày 19/02/2020 là 293.000.000 đồng, trong đó đã bao gồm khoản tiền vay 170.000.000 đồng mà ông đã vay của chồng bà T là ông T1 (tên thường gọi ở nhà là N).
Đến năm 2021, bà T yêu cầu ông phải sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 319, tờ bản đồ số 07 tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre qua cho bà T để làm tin. Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi giá chuyển nhượng là 700.000.000 đồng nhưng thực tế bà T không giao đủ 01 lần số tiền 700.000.000 đồng cho ông. Bà T cộng dồn các khoản vay 293.000.000 đồng ngày 19/02/2020 (hiện bà T đang khởi kiện) và khoản nợ 200.000.000 đồng cấn trừ giữa ông với ông T2 qua cho bà T. (Do ông nợ tiền ông T2 và ông T2 nợ bà T nên 03 người cùng thoả thuận gật nợ cho nhau. Như vậy, ông không còn nợ ông T2, ông T2 không còn nợ bà T). Số tiền 200.000.000 đồng của ông T2, ông có nghĩa vụ trả cho bà T. Bà T cộng dồn lại ghi số nợ thành 700.000.000 đồng rồi làm hợp đồng cầm cố tài sản bằng hình thức chuyển nhượng phần đất của ông.
Vào thời điểm này, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông đang thế chấp tại ngân hàng để vay vốn nên bà T có giao thêm cho ông số tiền 150.000.000 đồng để xóa thế chấp, lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về cầm cho bà T. Sau khi ông và bà T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà T giao thêm cho ông số tiền 50.000.000 đồng. Tổng cộng lại thành 700.000.000 đồng theo giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/02/2021.
Ông vay tiền của bà T rất nhiều lần, mỗi lần vay tiền bà T ghi vào sổ của bà Thu G, ông không có ký tên vào sổ. Ông đóng lãi hàng tháng 15%/tháng, đóng lãi mỗi ngày là 500.000 đồng đối với số tiền vốn là 100.000.000 đồng. Khi đóng lãi ông đưa tiền mặt cho bà T không có làm giấy tờ. Sau đó không có tiền đóng lãi và trả tiền vốn nên bà T gôm tiền vốn lãi và làm giấy nợ ông ký tên như trình bày ở trên. Ông không nhớ đã ký bao nhiêu giấy nợ với bà T, bà T gôm tất cả tiền vay từ trước đến ngày 19/02/2020 thành 01 giấy nợ chung.
Sau khi ký giấy nợ số tiền 700.000.000 đồng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/02/2021, ông đóng lãi 2%/tháng, mỗi ngày đóng 500.000 đồng cho bà T, ông đóng lãi từ năm 2021 đến tháng 10/2023 thì ngưng, khi đóng lãi cũng không làm giấy tờ.
Như vậy, theo Quyết định công nhận sự thoả thuận số: 100/2024/QÐST-DS ngày 21/10/2024 buộc ông và bà D trả cho bà T số tiền 1.250.000.000 đồng là hậu qủa của việc huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối với thửa đất số 319, tờ bản đồ số 07 tại xã M là ông đã trả hết số tiền nợ cho bà T, ông T1. Ông đồng ý để Cơ quan thi hành án thi hành theo quy định của pháp luật. Các khoản vay trước đã gộp vào số tiền 700.000.000 đồng theo giấy nợ nêu trên ông không còn nợ bà T khoản tiền nào khác. Khi Toà án giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông nghĩ bà T đã gộp tất cả các khoản nợ và yêu cầu ông trả nên ông không có nêu ý kiến khác. Do tin tưởng bà T nên khi gộp nợ, ông không có yêu cầu bà T, ông T1 xé giấy nợ trước nhưng không ngờ bà T lại dùng giấy tờ này kiện vợ chồng ông là không hợp lý.
Mục đích ông vay tiền là để làm ăn nhằm phát triển kinh tế gia đình nhưng từ khi vay tiền của bà T, ông T1 ông đều làm ăn thất bại và chỉ lo kiếm tiền đóng lãi không có phụ giúp gì cho gia đình. Do việc vay tiền giữa ông với bà T, ông T1 vợ ông là bà D không biết, cũng không có nhận tiền nên bà D không có liên quan gì trong vụ án.
* Bà Nguyễn Thị Thùy D có đơn xin vắng mặt nhưng có lời trình bày tại bản tự khai ngày 04/11/2024, tại biên bản hoà giải và biên bản đối chất ngày 06/11/2024 như sau: Bà có ký vào biên nhận chốt nợ ngày 19/02/2020 theo yêu cầu của bà T để tiện lợi cho chồng bà là ông R có vốn làm ăn nhưng không biết rõ việc làm ăn của ông R và việc vay tiền giữa ông R với vợ chồng bà T nên đề nghị ông R tự giải quyết với vợ chồng bà T. Ông R không có sử dụng số tiền vay vào việc phát triển kinh tế gia đình nên bà không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà T hay ông T1.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trương Thị Mộng T và ông Trần Phước T1 đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Thùy D.
- Buộc ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ trả liên đới trả cho bà Trương Thị Mộng T số tiền vay là 293.000.000 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Phước T1 số tiền vay là 170.000.000 đồng.
2. Tuyên án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các đương sự phát biểu tranh luận. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thùy D có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Xét thấy, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyền:
Nguyên đơn là bà Trương Thị Mộng T, ông Trần Phước T1 khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thị Thùy D trả số tiền vay, không yêu cầu tính lãi theo biên nhận nợ ngày 09/7/2018, thời hạn 12 tháng và biên nhận ngày 19/02/2020, thời hạn 06 tháng. Trong qúa giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Do bị đơn có nơi cư trú tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
[3] Về nội dung vụ án:
Ông T1 căn cứ vào “Hợp đồng vay tiền” giữa ông Trần Phước T1 với ông Nguyễn Văn R được công chứng số 2350, quyền số 02/20218/TP/CC - SCC/HĐGD ngày 09/7/2018 tại văn phòng C, có nội dung: Ông T1 cho ông R vay số tiền 170.000.000 đồng, thời hạn 12 tháng tính từ ngày 09/7/2018 đến ngày 09/7/20219, không có lãi để yêu cầu ông R, bà D trả nợ.
Bà T căn cứ vào giấy ghi: “Hợp đồng vay vốn cá nhân” lập ngày 19/02/2020 giữa bà Trương Thị Mộng T, ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Thùy D có chữ ký của ông R, bà T, bà D với có nội dung: Ông R, bà D đồng ý vay của bà T số tiền là 293.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay là 06 tháng tính từ ngày 19/02/2020 đến ngày 19/8/2020 để yêu cầu ông R, bà D trả nợ.
Ông R thừa nhận ông có ký tên vào 02 hợp đồng vay trên và có thực hiện việc vay tiền của bà T, ông T1 nhưng đây là số tiền vay nhiều lần sau đó cộng dồn lại thành một giấy nợ. Đến ngày 04/02/2021 bà T tổng hợp thành 01 giấy nợ chung số tiền là 700.000.000 đồng và buộc ông ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/02/2021. Bà T đã làm đơn khởi kiện gia đình ông bằng vụ án: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đã được Toà án giải quyết xong nên không còn nợ bà T, ông T1 nữa.
[4] Xét, hợp đồng vay tài sản giữa bà T, ông T1 với ông R, bà D nêu trên được lập thành văn bản, các bên tham gia giao dịch tự nguyện ký vào hợp đồng, về hình thức và nội dung của hợp đồng trên phù hợp theo quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật dân sự 2015. Ông R cho rằng, số tiền ông T1 khởi kiện ông và bà D theo hợp đồng vay ngày 09/7/2018 đã tổng hợp thành hợp đồng vay ngày 19/02/2020 bà T đang khởi kiện vợ chồng ông. Đến ngày 04/02/2021, bà T tổng hợp chung thành biên nhận nợ khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ghi giá chuyển nhượng đất là 700.000.000 đồng và đã được Toà án giải quyết xong, hiện bà T đang yêu cầu Cơ quan thi hành án thi hành nhưng ông R không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.
Qua thu thập chứng cứ có trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T với gia đình ông R đã được Toà án nhân dân thành phố Bến Tre thụ lý số 126/2024/TLST-DS ngày 11/4/2024 và được giải quyết xong bằng Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 100/2024/QÐST-DS ngày 21/10/2024 cho thấy, bị đơn là ông R, bà D cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cha mẹ, anh chị em của ông R đều thống nhất ông R có nhận của bà T số tiền 700.000.000 đồng là tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đồng ý giải quyết hậu qủa của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu. Các đương sự không đề cập và cũng không yêu cầu gì đối với số tiền vay và việc cộng dồn số tiền vay nêu trên. Trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T với gia đình ông R thì bà T đã khởi kiện yêu cầu ông R, bà D trả số tiền vay 293.000.000 đồng theo biên nhận nợ ngày 19/02/2020. Toà án nhân dân thành phố Bến Tre đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng để thông báo và triệu tập ông R, bà D tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhiều lần (do bà Bùi Thị Ba M ông R ký nhận thay ngày 09/10/2024 và ông R trực tiếp ký nhận thông báo ngày 18/10/2024). Đến ngày 21/10/2024, Toà án mới ban hành Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T với gia đình ông R nhưng ông R, bà D không có thay đổi ý kiến gì đối với biên bản hoà giải thành của Toà án là coi như đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Ông R còn cho rằng, ông vay tiền của bà T, rất nhiều lần, mỗi lần vay tiền bà T ghi vào sổ và bà Thu G, ông không có ký tên vào sổ. Ông đóng lãi hàng tháng 15%/tháng, đóng lãi mỗi ngày 500.000 đồng đối với số tiền gốc 100.000.000 đồng. Khi đóng lãi ông đưa tiền mặt cho bà T không có làm giấy tờ. Sau đó không có tiền đóng lãi và trả tiền vốn nên bà T gôm tiền vốn lãi và làm giấy nợ buộc ông ký tên như trình bày ở trên. Ông không nhớ là ký bao nhiêu giấy nợ với bà T, bà T gôm tất cả tiền vay từ trước đến ngày 04/02/2021 thành 01 giấy nợ chung rồi làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giá giá 700.000.000 đồng. Sau đó, ông đóng lãi cho bà T 2%/tháng, đóng lãi từ năm 2021 đến tháng 10/2023 thì ngưng. Do tin tưởng bà T, ông T1 nên không có ghi đầy đủ nội dung tổng hợp nợ và yêu cầu bỏ giấy nợ trước. Điều này cũng không phù hợp vì khi vay tiền hai bên đều làm giấy tờ nhưng khi trả nợ ông R không yêu cầu nguyên đơn ghi rõ nội dung trả nợ, trả lãi và tổng hợp vốn để làm căn cứ cho lời trình bày của mình. Ngoài ra, ông R cũng không có chứng cứ chứng minh số tiền ông T1 khởi kiện ông là của bà T, ông T1 cho ông vay chung sau đó đã tổng hợp thành giấy nợ chung của bà T. Hơn nữa, phía nguyên đơn cũng không thừa nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ xác định 02 giấy nợ ông T1 và bà T khởi kiện ông R, bà D trong vụ kiện này được nhập vào số tiền 700.000.000 đồng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/02/2021. Hội đồng xét xử cũng không có căn cứ để xác định việc bà T, ông T1 cho ông R, bà D vay tiền của bà T, ông T1 với mức lãi suất 15%/tháng hay 2%/tháng là cao hơn quy định của pháp luật để xem xét khấu trừ vào tiền vốn theo quy định của pháp luật.
[5] Căn cứ vào hợp đồng vay tiền giữa ông T1 với ông R ngày 09/7/2018, thời hạn 12 tháng tính từ ngày 07/7/2018 đến ngày 07/7/20219 và hợp đồng vay vốn cá nhân giữa bà T với ông R và bà D được lập ngày 19/02/2020, thời hạn vay là 06 tháng tính từ ngày 19/02/2020 đến ngày 19/8/2020. Đến ngày bà T, ông T1 khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện nhưng các trong qúa trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Ông R thừa nhận có việc vay tiền của ông T1, bà T và đã thực hiện việc đóng lãi đến tháng 10/2023 nhưng không chứng minh được việc đã trả xong cho bà T, ông T1 nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 154 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của ông T1 và bà T, buộc ông R có nghĩa vụ trả cho bà T, ông T1 số tiền vay trên là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm liên đới: Trong vụ án này, mặc dù ông R là người trực tiếp giao kết hợp đồng với bà T, ông T1 nhưng giữa ông R và bà D là vợ chồng. Bà D cũng biết và thừa nhận bà có ký tên vào biên bản nhận nợ của bà T để tiện lợi cho chồng bà là anh R có vốn làm ăn. Mục đích vay tiền của ông R là để làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên việc ông T1 và bà T khởi kiện yêu cầu ông R, bà D có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông bà là phù hợp với Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông R, bà D và buộc bà D cùng ông R có nghĩa vụ liên đới trả cho ông T1 số tiền vốn là 170.000.000 đồng và bà T số tiền 293.000.000 đồng.
[7] Về lãi suất: Do nguyên đơn không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét đến.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền buộc phải trả nợ là: 170.000.000 đồng + 293.000.000 đồng = 463.000.000 đồng. Án phí là 20.000.000 đồng + 4%(63.000.000 đồng) = 22.520.000 đồng.
- Bà Trương Thị Mộng T, ông Trần Phước T1 không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
[9] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 154, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trương Thị Mộng T và ông Trần Phước T1, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Thùy D.
- - Buộc ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Phước T1 số tiền vay vốn là 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng).
- - Buộc ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trương Thị Mộng T số tiền vay vốn là 293.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu đồng)
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, khi có đơn yêu cầu thi hành án của ông T1 và bà T nếu ông R và bà D chưa trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- - Ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 22.520.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).
- - Ông Trần Phước T1 được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.250.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0005329 ngày 05/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- - Bà Trương Thị Mộng T được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.325.000 đồng (Bảy triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005133 ngày 01/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn, bị đơn có mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo, đối với bị đơn vắng mặt tại toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thuý Hằng |
Bản án số 34/2025/DS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 34/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Trần Phước T và ông Nguyễn Văn R
