TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HS-ST
Ngày 21 tháng 3 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt và ông Phạm Ngọc Nguyên;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chúc và ông Phạm Đức A - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Trí T, sinh năm 1988, tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số A, đường H, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Ngọc T1 và bà Ngô Thị Kim C; vợ Trương Hải Y, con có 02 người con. Bị cáo đã có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự xuất ngũ năm 2008;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02 tháng 12 năm 2024 đến nay; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Trí T: Bà Lê Lâm T2, sinh năm 1970, Luật sư Công ty TNHH MTV L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; có mặt;
- Bị hại: Lê Bữu H, sinh năm 1946 (đã chết);
2
Đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Ông Lê Tấn H1, sinh năm 1985; cư trú: 75/10, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; có mặt.
- + Bà Phan Kim L, sinh năm 1956; cư trú: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang;
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Lê Tấn H1, sinh năm 1985; cư trú: 75/10, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1978; cư trú: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt;
- + Ông Nguyễn Tấn H3, sinh năm 1975; cư trú: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt;
- + Bà Nguyễn Thị Kim H4, sinh năm 1987; cư trú: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Văn T3, sinh năm 1951; cư trú: ấp M, xã T, huyện P, tỉnh An Giang; vắng mặt;
- - Người có liên quan đến vụ án: Ông Cao Văn P, sinh năm 1956; cư trú: ấp T, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; có mặt;
- - Người làm chứng: Bà Vỏ Thị D, sinh năm 1956 và bà Ngô Thị Bé N, sinh năm 1981 (tại phiên tòa bà D, bà N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 15/8/2024, ông Cao Văn P là Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Trung tâm y tế huyện P kêu Lê Trí T điều khiển xe ô tô biển số 67A-099.75 chở người bệnh Võ Thị D1 đi cùng bà D1 có con gái là Ngô Thị Bé N, từ Trung tâm y tế huyện P đến Bệnh viện Đ để chuyển tuyến khám chữa bệnh (miễn phí), trên đường đi Tín điều khiển xe cứu thương mở đèn, còi ưu tiên. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe trên Quốc lộ I (hướng C - L), đi vào đường giao nhau giữa Quốc lộ I với tuyến tránh L thuộc địa bàn khóm B, phường B, thành phố L; trong giao lộ, T vượt sang bên trái xe tải phía trước cùng chiều, nên không thấy ông Lê Bửu H5 (đã vào giao lộ) đang điều khiển xe đạp điện từ tuyến đường tránh L chuyển hướng rẽ trái vào Quốc lộ I, dẫn đến xe ô tô do Tín điều K đụng xe ông H5 làm ông H5 ngã xuống bất tỉnh, ngày sau đó T dùng xe ô tô đang điều khiển đưa ông H5 đến Bệnh viện Đ cấp cứu, nhưng ông H5 chết trên đường đến bệnh viện.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe ô tô cứu thương biển số 67A-099.75, kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép sử dụng thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu
3
tiên, giấy kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.
- 01 giấy phép lái xe hạng E tên Lê Trí T và 01 xe đạp điện Yamaha Pá màu trắng xanh.
* Tại kết luận giám định tử thi số 1174/24/KLGĐTT-TTPY ngày 15/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A kết luận: Nguyên nhân chết gẫy trật đốt sống cổ, chèn ép tủy.
* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 15/8/2024; Các biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 15/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố L lập phù hợp với nội dung đã được thể hiện rõ trong Cáo trạng, phù hợp với nội dung nêu trên.
- Kết quả kiểm tra nồng độ cồn ngày 15/8/2024 của Phòng C1 đường bộ Công an tỉnh A đối với Lê Trí T xác định: nồng độ cồn 0.000mg/L.
- Kết quả xét nghiệm ngày 15/8/2024 của Trung tâm Y tế thành phố L đối với Lê Trí T xác định: âm tính với MET, THC, MDMA, Morphine.
- Kết luận định giá tài sản số 2589/KL-HĐĐGTS ngày 19/12/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L: 01 xe đạp điện hiệu Yamaha Pas bị hư hỏng 100%, tổng trị giá 200.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Tấn H1 (con ruột ông H5) được bà Phan Kim L (vợ ông H5), Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Tấn H3, Nguyễn Thị Kim H2 (con ruột ông H5) ủy quyền, anh H1 đã nhận 20.000.000 đồng của T bồi thường thiệt hại, nên xin miễn trách nhiệm hình sự cho T.
Đối với xe 67A-099.75 do anh Phan Văn T3 là chủ xe, anh T3 đã nhận lại xe nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSLX ngày 17 tháng 02 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Lê Trí T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Trí T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, đối với giấy phép lái xe hạng E tên Lê Trí T là của bị cáo, nên bị cáo đề nghị nhận lại.
Đại diện bị hại anh H1 có mặt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, bản thân và gia đình mong muốn không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; đại diện người bị hại vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với nội dung Cáo trạng nêu trên.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
4
Người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Trí T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật tốt, việc phạm tội xuất phát từ việc thiếu hiểu biết pháp luật khi vận hành xe cứu thương nên không cần thiết áp dụng biện pháp cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng các Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị trả lại giấy phép lái xe hạng E cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp của gia đình bị hại H5 không yêu cầu, nên không đề cập xem xét giải quyết.
Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, đồng quan điểm với tội danh theo đề nghị của Viện kiểm sát, không tranh luận về việc xác định tội danh, đối với việc áp dụng hình phạt đề nghị áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, cũng như đề nghị áp dụng Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe đã thu giữ vì đây là giấy tờ liên quan đến nhân thân của bị cáo.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến
5
việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Lê Trí T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của đại diện bị hại, lời khai người làm chứng, phù hợp biên bản dựng lại hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, các biên bản khám nghiệm phương tiện cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập khách quan, đúng quy định pháp luật có trong hồ sơ vụ án, xác định rõ về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích và động cơ phạm tội, cũng như hậu quả do tội phạm gây ra. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Lê Trí T là người có đầy đủ giấy phép lái xe, sau khi được người thuộc Hội chữ thập đỏ kêu chở người bệnh miễn phí theo hình thức chuyển tuyến viện, không phải chở cấp cứu bệnh nhân từ Trung tâm y tế huyện P đến Bệnh viện Đ, trên đường đi khoảng 11 giờ ngày 15/8/2024, Lê Trí T khi đang điều khiển xe ô tô cứu thương biển số 67A – 099.75, có thực hiện mở đèn, còi ưu tiên trên Quốc lộ I theo hướng C - L trên xe còn có người bệnh tên Vỏ Thị D và người đi cùng là Ngô Thị Bé N, khi đang trong giao lộ của Quốc lộ I giao nhau với với tuyến tránh L, T đã thực hiện vượt bên trái xe tải phía trước cùng chiều không đúng quy định, nên không thấy bị hại Lê Bữu H đã thực hiện di chuyển vào giao lộ của Quốc lộ I trước đó, dẫn tới xe do Tín điều khiển đụng xe đạp do ông H điều khiển làm cho ông Hồ N1 xuống đường bất tỉnh, mặc dù T đã đưa ông H đi cấp cứu, nhưng ông đã chết trên đường tới bệnh viện.
Hành vi nêu trên của bị cáo T vi phạm khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 về việc khi tham gia giao thông không đảm bảo xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, khi thực hiện vượt T đã thiếu quan sát, dẫn tới hậu quả làm chết người. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm điểm a, khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định mức phạt, đối với người phạm tội: bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng, sức khỏe con người, có gây ảnh hưởng đến quần chúng khi tham gia giao thông, nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang thực hiện công việc từ thiện, xe ô tô có đầy đủ đèn, còi, cũng như giấy phép sử dụng đèn tín hiệu, quyền xe ưu tiên. Do đó, cần phải xem xét hình phạt đối với bị cáo trên cơ sở xác định lỗi, nhưng cũng phải có tính phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
6
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý do cẩu thả. Bị hại khi tham gia giao thông đã thực hiện sang đường nằm trong phần giao lộ cho phép, nhưng do bị cáo Tín điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái của xe đang di chuyển cùng chiều đang lưu thông phía trước, đi vào làn đường giao nhau theo hướng di chuyển của bị hại, bị cáo đã thiếu quan sát, do tự tin xe có bật còi tín hiệu và là xe ưu tiên, nên đã dẫn tới hậu quả như trên, sự tự tin này của bị cáo cho thấy đây hoàn toàn thuộc về lỗi của bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; người đại diện cho bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo từng là bộ đội phục viên, có nhiều thành tích đóng góp cho xã hội, làm công tác từ thiện. Mặc khác, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tích cực đưa người bị hại đi cứu chữa, mặc dù bị hại không qua khỏi, nhưng thể hiện tinh thần ăn năn, hối cải của bị cáo, nên bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào, mặc dù hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra dẫn tới chết người. Tuy nhiên, bị cáo được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo có nhiều đóng góp từ thiện cho xã hội, thiếu hiểu biết pháp luật trong công tác vận hành xe cứu thương, bị cáo chấp hành nghiêm theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đại diện bị hại đề nghị không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, nhưng để đảm bảo mức răn đe, phòng ngừa chung, hành vi của bị cáo là có ảnh hưởng tới hoạt động chung của xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng, nhân dân về việc người điều khiển xe cơ giới được quyền ưu tiên, nhưng không tuân thủ quy định về Luật giao thông đường bộ, chỉ có cơ sở chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo, không có cơ sở để áp dụng Điều 54 theo đề nghị của Viện kiểm sát, cũng như người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy, việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Đây là cơ hội để bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ
7
luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo là người làm thuê, tài sản, thu nhập không ổn định, hình phạt chính cũng đủ răn đe đối với bị cáo, nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với xe ô tô biển số 67A-099.75 quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho người liên quan là đúng quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự. Riêng đối với giấy phép lái xe hạng E tên Lê Trí T, đây là giấy tờ tuy thân của bị cáo, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự đã tự nguyện thoả thuận bồi thường với nhau, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Trí T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Trí T 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Trí T cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo 01 (một) Giấy phép lái xe hạng E tên Lê Trí T (đặc điểm theo như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Lê Trí T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
8
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ Điều 321; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trung Kiên |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Trần Thanh Việt | Phạm Ngọc Nguyên | Nguyễn Trung Kiên |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T lái xe cứu thương, nhưng không quan sát dẫn đến tai nạn
