|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số:34/2025/HSST Ngày: 17-03-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Thông
2. Ông Phạm Quốc Thân
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Anh Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện KSND Thành phố L tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Y - Kiểm sát viên.
Ngày 17-03-2025 tại hội trường A Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 06/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Công T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1978, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1953 và bà Mai Thị L, sinh năm 1956; Gia đình có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1975, em nhỏ nhất sinh năm 1989; Vợ: Lê Thị Bích T1, sinh năm 1982; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Công T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 16/6/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.
* Người bị hại: Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1988 và chị Võ Lệ Q, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ H, khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
* Người làm chứng:
- Anh Huỳnh Trí T2, sinh năm 1993
- Anh Nguyễn Thế T3, sinh năm 1993
Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, người bị hại Đ có mặt; người bị hại chị Q, người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/3/2022, anh Nguyễn Tiến Đ bị Công an thành phố L bắt quả tang về hành vi đánh bạc tại xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, anh Đ bị tạm giữ hình sự để xác minh xử lý. Biết việc Đ bị bắt giữ nên vợ của Đ là Võ Lệ Q đã tìm gặp anh Huỳnh Trí T2 (bạn của Đ) để nhờ T2 giúp “chạy án” cho Đ và tại ngoại. Thời điểm này, T2 đang là chủ quán cà phê tại số A, N, khu phố A, phường X, thành phố L. Khi đó, Nguyễn Công T thường ghé quán của anh T2 uống nước. Chiều ngày 08/3/2022, T đi đá bóng về thì ghé quán cà phê của T2 thì nghe anh T2 kể lại việc được chị Q nhờ giúp chạy án cho Đ. T nói anh T2 nếu đưa cho T 70.000.000 đồng thì T sẽ giúp cho anh Đ được thả về. Nghe T nói vậy, anh T2 gọi điện thoại trao đổi với chị Q. Chị Q đồng ý nhưng lúc đó không có tiền nên chị Q nhờ anh T2 mượn tiền đưa trước cho T, khi nào anh Đ được tại ngoại thì anh Đ sẽ trả lại tiền cho T2. T2 đưa 70.000.000 đồng cho T tại quán cà phê. Sau đó, T chở anh T2 trên xe ô tô đến trụ sở Công an thành phố L. Anh T2 ngồi chờ trên xe ô tô đỗ bên lề đường còn T đi bộ vào trong trụ sở Công an thành phố L. Theo T khai báo thì T đã gặp anh Nguyễn Thế T3 là cán bộ Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố L để đưa 30.000.000 đồng nhờ “chạy án”. Còn lại 40.000.000 đồng thì T giữ mang về và tiêu xài hết. Cũng trong buổi tối ngày 08/3/2022, Đ được cho bảo lĩnh tại ngoại do hành vi phạm tội ít nghiêm trọng và có nơi cư trú rõ ràng. Ngày hôm sau, Đ đã trả lại cho T2 70.000.000 đồng. Sau đó, Đ quen biết và có số điện thoại của T theo sự giới thiệu của anh T2. Đ nhờ T lấy giúp xe máy và điện thoại đang bị Công an thành phố L tạm giữ. T nói anh Đ đưa cho T 10.000.000 đồng thì T sẽ giúp lấy được. Khoảng ngày 22/3/2022, Đ đã đưa 10.000.000 đồng cho T tại quán cà phê của T2 nhưng T đã tiêu xài hết tiền mà không giúp gì cho anh Đ như đã hứa. Sau khi Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh ra Cáo trạng để truy tố Đạt về tội “Đánh bạc” thì Toàn nói anh Đ đưa cho T 40.000.000 đồng để T giúp anh Đ được hưởng án treo. Tin lời T nên ngày 15/7/2022, Đ đã chuyển khoản cho T số tiền trên vào tài khoản của T tại ngân hàng Q1 (M). Sắp đến ngày Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử vụ án thì T nói anh Đ đưa thêm cho T 30.000.000 đồng nữa để chạy án cho anh Đ. Sau đó, Đ tiếp tục chuyển khoản cho T 30.000.000 đồng vào ngày 07/9/2022. Tính đến thời điểm này, T đã nhận tiền mặt và nhận chuyển khoản ngân hàng từ anh Đ tổng cộng 150.000.000 đồng.
Đến ngày 09/9/2022, Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh bắt tạm giam để chuẩn bị xét xử. Lúc này, T liên lạc với chị Q nói đưa tiền cho T để giúp Đ được hưởng án treo. Tin tưởng T nên chị Q đã đưa tiền mặt và chuyển khoản cho T tổng cộng 270.000.000 đồng (01 lần đưa tiền mặt 50.000.000 đồng vào ngày 10/9/2022 tại quán cà phê của T2 và 02 lần chuyển khoản 220.000.000 đồng vào các ngày 11, 12/9/2022). Đến ngày 13/9/2022, Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh tuyên phạt 02 năm tù. Sau đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm tuyên trả tự do cho Đ vào ngày 06/01/2023. Sau khi về, anh Đ tìm gặp T đòi lại tiền nhưng T né tránh, bỏ đi khỏi địa phương, không có khả năng trả lại tiền nên anh Đ gửi đơn tố cáo T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Ngày 22/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra quyết định truy tìm đối với Nguyễn Công T. Đến ngày 31/5/2024, T đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Về dân sự: Anh Nguyễn Tiến Đ và chị Võ Lệ Q yêu cầu Nguyễn Công T bồi thường 420.000.000 đồng, hiện T đã bồi thường cho anh Đ, chị Q 70.000.000 đồng. Do đó, T có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường số tiền còn lại.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSLK ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, bổ sung thêm tình tiết phạm tội nhiều lần, xét xử bị cáo về “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174, điểm s, khoản 1, khoản 2, điểm g, khoản 1, Điều 52, Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 09 năm đến 10 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Công T có nghĩa vụ bồi thường cho anh Đ, chị Q 350.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo khẳng định khai báo tự nguyện, không ai ép buộc. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo T khai nhận T và T3 là bạn chơi đá banh chung với nhau, khi nghe T3 kể về việc vừa tham gia bắt vụ đánh bạc ở B và sau đó được anh Huỳnh Trí T2 kể có bạn là Nguyễn Tiến Đ vừa bị bắt về hành vi đánh bạc và nhờ chạy cho tại ngoại, T đã đồng ý. Anh Đ được tại ngoại do hành vi phạm tội ít nghiêm trọng nên đã lấy được lòng tin của người bị hại và được bị hại tin tưởng tiếp tục nhờ chạy cho hưởng án treo. Anh Đ bị cấp sơ thẩm xử phạt 02 năm tù nên chị Q và anh Đ yêu cầu bị cáo trả lại tiền. Tổng số tiền bị cáo đã nhận nhiều lần của anh Đ và vợ là chị Võ Lệ Q là 420.000.000đ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng), mặc dù bị cáo không có khả năng nhưng vẫn dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin cho rằng mình quen biết và có khả năng chạy án nên anh Đ và chị Q đã tin tưởng giao số tiền trên cho bị cáo, thuộc tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có trình độ nhưng để có tiền tiêu xài và trả nợ cá nhân nên đã đưa thông tin cho với anh Đ, chị Q và anh T2 về việc mình có khả năng chạy án và nhận tiền từ anh Đ, chị Q. Hành vi của bị cáo xâm phạm vào quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần phạt tù để bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52; Bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đầu thú và đã khắc phục một phần thiệt hại cho người bị hại được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường số tiền 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) cho anh Nguyễn Tiến Đ và chị Võ Lệ Q.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 17.500.000₫ (Mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng) án phí DSST.
Đối với hành vi của Nguyễn Tiến Đ, Võ Lệ Q có dấu hiệu của tội “Đưa hối lộ” theo quy định tại Điều 364 Bộ luật hình sự và hành vi của Huỳnh Trí T2 có dấu hiệu của tội “Môi giới hối lộ” theo quy định tại Điều 365 Bộ luật hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách các hành vi trên để điều tra, xử lý trong một vụ án khác.
Nguyễn Công T khai có đưa cho Nguyễn Thế T3 số tiền 30.000.000 đồng, Tuy nhiên, qua làm việc, anh T3 khai không có liên lạc hay nhận tiền của T, tại phiên toà bị cáo khai tiền anh T3 mượn ngoài không liên quan đến vụ án, ngoài ra không có chứng cứ gì khác nên chưa có căn cứ xử lý.
Quan điểm của Viện kiểm sát thành phố L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a, khoản 3, Điều 174; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm g, khoản 1, Điều 52, Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Công T bồi thường 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) cho anh Nguyễn Tiến Đ và chị Võ Lệ Q.
- Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 17.500.000đ (Mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng) án phí DSST.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Đ, chị Q cho đến khi thi hành của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các số tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiến lãi của khoản tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an TP. Long Khánh; - VKSND TP. Long Khánh; - Thi hành án TP. Long Khánh; - Bị cáo; - Hồ sơ thi hành án; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu án văn; - Hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải Yến |
Bản án số 34/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 34/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công T Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
