Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 3 - 2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Trần Ngọc Diệu
  • 2. Bà Phạm Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trúc - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 516/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa:

1.Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: số B, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Võ Văn R, sinh năm 1981.

Địa chỉ ĐKTT: số H, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Chỗ ở hiện nay: số B, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa, chị H và anh R đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trần Thị Ngọc H trình bày:

Chị H và anh R qua tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2010, tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn thời gian đầu chị và anh R chung sống với nhau hạnh phúc, đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt, anh R không còn quan tâm, chăm lo cuộc sống gia đình, mặc dù vợ chồng còn chung sống một nhà nhưng đã chấm dứt mối quan hệ vợ chồng từ khoảng tháng 11/2023 cho đến nay, mọi sinh hoạt vợ chồng tách riêng, hiện tại tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên chị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về hôn nhân: Chị H có yêu cầu giải quyết cho được ly hôn với anh R.
  • - Về con chung: Chị H và anh R có con chung là Võ Gia H1, sinh ngày 13/11/2010. Hiện nay con chung chị H đang nuôi dưỡng, khi ly hôn chị H có yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh R cấp dưỡng cho con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Võ Văn R trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Tại bản khai và biên bản lấy lời khai ngày 23/12/2024 anh R trình bày: Anh R và chị H qua thời gian tìm hiểu anh chị đã có tổ chức lễ cưới vào năm 2009, đến ngày 21/8/2010, thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn anh chị sống chung với gia đình cha mẹ vợ, đến khoảng năm 2018 thì vợ chồng anh chị sống riêng tại số nhà S, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre, do vợ anh muốn ly hôn với anh, còn theo anh thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì đáng kể, vợ chồng có buồn vui ít nói chuyện với nhau cách nay khoảng từ 05 đến 06 tháng, mọi sinh hoạt vợ chồng tách riêng, chính thức vợ anh về nhà cha mẹ vợ sống (ngủ) cách nay khoảng 01 tháng và dẫn con chung theo về bên đó.

  • - Về hôn nhân: Chị H có yêu cầu giải quyết cho được ly hôn với anh R, thì ý kiến của anh cho rằng con thương vợ con, xin được đoàn tụ.
  • - Về con chung: Anh R và chị H có con chung là Võ Gia H1, sinh ngày 13/11/2010. Hiện nay con chung đang sống với chị H. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh R có ý kiến theo nguyện vọng của con anh muốn sống với chị H thì anh cũng đồng ý, do chị H không yêu cầu anh cấp dưỡng cho con, nên anh không phải cấp dưỡng.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh R cho rằng lý do anh R xin được đoàn tụ là gì anh còn thương vợ con, anh có ý kiến để về trao đổi lại với chị H rồi sẽ tiếp tục có ý kiến về hôn nhân của anh chị.

Về địa chỉ nơi cư trú anh R xác định hiện tại anh R có địa chỉ đăng ký thường trú tại số H, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Chỗ ở hiện nay: số B, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị H trong quá trình giải quyết vụ án có đơn yêu cầu, giải quyết xét xử vắng mặt. Bị đơn anh R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị H thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Bị đơn anh R chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70,72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các Điều 56, 81,82, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc H.

  • - Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh Võ Văn R.
  • - Về con chung: Giao con chung là Võ Gia H1, sinh ngày 13/11/2010 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị H không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Chị Trần Thị Ngọc H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Võ Văn R. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị H xác định vụ án có quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Võ Văn R là bị đơn trong vụ án có địa chỉ đăng ký thường trú tại số H, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Chỗ ở hiện nay: số B, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc H trong quá trình giải quyết vụ án chị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Võ Văn R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh R

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh R tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 21 tháng 8 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre, nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Chị H trình bày trong quá trình chung sống chị và anh R phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên cự cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt, anh R không quan tâm, chăm lo cuộc sống gia đình, mặc dù vợ chồng còn chung sống một nhà nhưng đã chấm dứt mối quan hệ vợ chồng từ khoảng tháng 11/2023 cho đến nay, mọi sinh hoạt vợ chồng tách riêng, hiện tại tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên chị khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh R.

Anh R trình bày vợ chồng không có mâu thuẫn gì đáng kể, tuy nhiên anh cũng xác định vợ chồng có buồn vui ít nói chuyện với nhau khoảng từ 05 đến 06 tháng, mọi sinh hoạt vợ chồng tách riêng, anh xin được đoàn tụ là gì anh còn thương vợ con, anh có ý kiến để về trao đổi lại với chị H rồi sẽ tiếp tục có ý kiến về hôn nhân của anh chị, nhưng sau đó anh R không có ý kiến gì về hôn nhân, đồng thời anh R đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng anh R vắng mặt không có lý do. Đối với chị H cho đến ngày xét xử sơ thẩm thì chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Xét thấy, giữa chị H và anh R không còn tình nghĩa vợ chồng vì không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Bên cạnh đó, hiện tại anh chị đã không còn chung sống với nhau nữa.

Từ đó có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của chị H và anh R lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H để giải quyết cho chị H được ly hôn với anh R.

[2.2] Về con chung:

Anh R và chị H có con chung là Võ Gia H1, sinh ngày 13/11/2010. Hiện nay con chung chị H đang nuôi dưỡng, khi ly hôn chị H có yêu cầu được nuôi con chung và không có yêu cầu anh R cấp dưỡng cho con. Anh R có ý kiến nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh R có ý kiến theo nguyện vọng của con anh muốn sống với chị H thì anh cũng đồng ý vì chị H không yêu cầu anh cấp dưỡng cho con, nên anh không phải cấp dưỡng, ý kiến của cháu H1 muốn tiếp tục sống chung với chị H. Do vậy, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu H1, Hội đồng xét xử giao cháu Võ Gia H1, sinh ngày 13/11/2010 cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng cho con: theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình thì chị H có quyền yêu cầu anh R thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh R trình bày thống nhất với nhau là hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và ý kiến đề nghị về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng phí chị H đã nộp là 300.000 đồng. Chị H đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc H.

  1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh Võ Văn R.
  2. Về con chung:

    Giao con chung tên Võ Gia H1, sinh ngày 13/11/2010 cho chị H được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị H không có yêu cầu anh R cấp dưỡng cho con.

    Anh R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

    Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh R và chị H tự thỏa thuận, không tranh chấp, không yêu cầu Toà an giải quyết.
  4. Về án phí:

    Chị Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng phí chị H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004394 ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Chị H đã nộp đủ án phí.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND huyện Giồng Trôm;

- UBND xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm;

- Chi cục THADS huyện Giồng Trôm;

- TAND tỉnh Bến Tre;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger