TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HS-PT
Ngày: 14/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết
Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Hiền; Bà Trần Thị Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:
Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 291/2024/TLPT-HS ngày 05/12/2024 đối với bị cáo Nguyễn Tiến T, Hoàng Văn T1, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến T, Hoàng Văn T1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Tiến T, sinh năm 1993. Tên gọi khác: Không;
Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn Giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 11/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Bố đẻ: Nguyễn Quốc H1, sinh năm 1964. Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1967. Gia đình bị can có 03 anh chị em, bị can là con thứ 03 trong gia đình. Vợ: Phạm Thị L1, sinh năm 1998 (đã chết). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ, sinh năm 2019.
Nhân thân:
- +) Ngày 12/7/2016 bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh nhau".
- +) Ngày 23/01/2017 bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "đánh nhau".
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).
2. Họ và tên: Hoàng Văn T1, sinh năm 1984. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký HKTT: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn Giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 06/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Bố đẻ: Hoàng Thanh V, sinh năm 1957. Mẹ đẻ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1955. Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1986. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ, sinh năm 2014.
Nhân thân: Bản án số 44/2007/HSST ngày 30/7/2007 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện bị cáo Hoàng Văn T1 đã chấp hành xong bản án.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).
Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 31/5/2023, anh Đào Văn V1, sinh năm 1970; anh Trần Văn T2, sinh năm 1994 cùng trú tại thôn Đ, xã T, huyện L và Hoàng Văn T1, sinh năm 1984 trú tại thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến phòng trà Huân H2 (quán hát cho nhau nghe) do vợ chồng anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1980 và chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1980 trú tại thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm chủ để uống nước và hát, thời điểm này trong quán cũng có một số khách đang ngồi uống nước và hát karaoke. Đến khoảng 21 giờ 56 phút cùng ngày Trần Công T3, sinh năm 1993; anh Trần Văn T4, sinh năm 1987 cùng trú tại thôn L, xã T, huyện L; Nguyễn Tiến T, sinh năm 1993 trú tại thôn C, xã T, huyện L đi xe máy đến phòng trà Huân H2 uống nước. Thời điểm này, anh Đào Văn V1 đang cầm micro (mic) hát trên sân khấu phòng trà thì Trần Công T3 lúc này đang say rượu lên kéo anh V1 xuống thì bị anh V1 chửi, liền đó T3 dùng tay đấm vào mặt anh V1. Thấy T3 và V1 xô xát đánh nhau thì T cũng lao vào đánh anh V1, lúc này anh V1 đang cầm mic do bị T, T3 đánh nên đã làm rơi mic xuống nền quán. Thấy anh V1 bị T, T3 đánh, T1 cầm 02 vỏ chai bia ném về phía T, T3 thì trúng vào đầu T và vỏ chai bia vỡ bắn vào mặt chị H2 làm T và chị H2 bị thương. Bị đánh anh V1 bỏ chạy thì bị T kéo lại đánh rồi đẩy ngã xuống nền phòng trà, T1 cầm vỏ chai bia và ghế quăng về phía T3 nhưng không trúng, T3 bỏ chạy ra ngoài. T1 tiếp tục cầm vỏ chai bia giơ lên dọa đánh anh T4 ở bên trong phòng trà thì được mọi người can ngăn. Sau đó, T3 và T cầm gạch đi vào phòng trà đe dọa mọi người rồi T cầm 02 vỏ chai bia, T3 cầm 02 vỏ chai bia đập vỡ rồi giơ lên đe dọa nhóm T1 thì được anh H3 can ngăn và du T3, T ra ngoài cửa. Tại cửa quán, T3 và Tân cãi
chửi nhau với anh H3 rồi bất ngờ T3 tát 01 cái vào mặt anh H3 thì anh H3 và T2 nhảy vào đánh nhau với T, T3 thì được mọi người can ngăn. Sau đó T, T3 đứng ở ngoài đường tiếp tục chửi và quăng chai bia trúng vào cửa thủy lực phòng trà gần vị trí anh H3 đứng. Thấy vậy, T1 và T2 chạy ra phía sau phòng trà rồi T1 cầm 01 chiếc xẻng, T2 cầm 02 con dao đi ra, khi đến cửa phòng trà T2 cầm xẻng của T1 và đưa cho T1 cầm 02 con dao rồi T2 và T1 đi ra ngoài đường nhưng không đánh ai. Sau đó, T lái xe chở T3 và T4 đi về. Khi về nhà, T nhận được cuộc gọi điện thoại của Nguyễn Tiến H5, sinh năm 1995 trú tại thôn C, xã T, huyện L thì T kể cho H5 biết việc bị đánh. Lúc này, H5 đang ngồi uống bia cùng Nịnh Xuân H6, sinh năm 1997 trú tại thôn C, xã T, huyện L và Nguyễn Văn N, sinh năm 1994 trú tại thôn Đ, xã T, huyện L nên đã kể cho H6, N biết việc T bị đánh ở phòng trà Huân H2. Sau đó, H5 và H6 đi xe máy đến nhà T rồi cùng T, T3 đi ra phòng trà Huân H2 để giải quyết mâu thuẫn. Khi đi T3, H6, H5 mỗi người cầm theo 01 con dao, N cũng đi xe ô tô ra phòng trà Huân H2. Đến khoảng 22 giờ 55 phút cùng ngày, sau khi đến nơi H6 cầm 01 con dao ba, H5 cầm 01 con dao găm chạy vào trong phòng trà thì bị Công an xã V đang làm nhiệm vụ ngăn cản, đẩy ra ngoài; đồng thời Công an xã tước dao của H6. N cầm mũ cối chạy vào trong phòng trà đuổi theo đánh nhiều cái vào người anh T2, H5 cũng cầm dao găm chạy vào phòng trà đuổi theo đâm 01 nhát vào tay anh T2, sau đó các đối tượng đi ra ngoài, khi ra đến ngoài cửa quán Tân giằng con dao nhọn dài khoảng 30cm của H5, sau đó các đối tượng đi về. Trên đường đi về T đã ném con dao vào rìa đường bên phải cách quán Huân Huyền 100m. Sau khi bị đánh anh T2 bị thương được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị.
Sau khi sự việc xảy ra anh Nguyễn Văn H3 đã trình báo Công an xã V đề nghị giải quyết. Cùng ngày Công an xã V, huyện L tiến hành lập biên bản vụ việc, thu giữ: 01 con dao, lưỡi dao bằng kim loại màu đen kích thước (22,2x9,6) cm, chuôi dao bằng gỗ hình trụ màu xám kích thước (12,2x3,4) cm; 01 con dao, lưỡi dao bằng kim loại màu đen kích thước (22,5x6,1) cm chuôi dao bằng gỗ hình trụ màu xám kích thước (11,3x2,5) cm. Quá trình làm việc xác định tài sản bị hư hỏng gồm 05 (năm) chai bia nhãn hiệu Sài Gòn; 04 (bốn) vỏ chai bia nhãn hiệu Sài Gòn; 01 (một) bình thủy tinh loại 02 lít và 01 (một) micro màu đen, nhãn hiệu Baier vires.
Ngày 02/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L dẫn Nguyễn Tiến T truy tìm vật chứng. Kết quả thu giữ được 01 (một) con dao dài 26cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 14cm cạnh sắc, đầu nhọn, chuôi dao hình trụ tròn dài 12cm được niêm phong ký hiệu TT1.
Ngày 08/6/2024, anh Nguyễn Văn H3 giao nộp 01 đầu thu Camera màu đen nhãn hiệu @Jhua, có số SN: 6F00B7DPAZ56659 được niêm phong theo quy định để phục vụ công tác điều tra.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trưng cầu giám định giám định, trích xuất dữ liệu ở đầu thu Camera do anh H3 giao nộp. Tại Bản kết luận giám định số 1405/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Tìm thấy, trích xuất được 31 file video lưu trữ trong ổ cứng HDD dung lượng 01TB gắn kèm đầu thu gửi giám định có khoảng thời gian từ 21 giờ 50 phút đến 23 giờ 10 phút ngày 31/5/2023 (thời gian hiển thị trên khung hình của file video), các dữ liệu file video trích xuất có tổng dung lượng 3,83GB được lưu trữ vào 01 đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell màu cam.
- Trích xuất được 50 hình ảnh thể hiện diễn biến của vụ việc trong file video gửi giám định.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 37 ngày 07/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 05 (năm) chai bia nhãn hiệu S, thành tiền là 90.000 đồng; 04 (bốn) vỏ chai bia nhãn hiệu S, thành tiền là 40.000 đồng; 01 (một) bình thủy tinh loại 02 lít thành tiền là 50.000 đồng và 01 (một) micro màu đen, nhãn hiệu Baier vires thành tiền là 2.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 2.380.000 đồng.
Đối với Trần Công T3, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can và ra Quyết định truy nã. Do hết thời hạn điều tra không biết rõ bị can ở đâu nên ngày 08/6/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự và tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Trần Công T3 khi bắt được sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Tiến H5, Nguyễn Văn N, Nịnh Xuân H6 được Nguyễn Tiến T, Hoàng Văn T1 gọi đến quán Huân H2 để giải quyết mâu thuẫn với nhóm của T1. Quá trình điều tra xác định sự việc nhóm T và nhóm T1 đuổi đánh nhau đã kết thúc trước đó. Khi mọi người đến giải quyết mâu thuẫn thì lực lượng Công an xã V đang làm việc nên hành vi của Nguyễn Tiến H5, Nguyễn Văn N, Nịnh Xuân H6 không đồng phạm và không cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Việc anh T2 bị N và H5 đánh gây thương tích nhưng anh T2 từ chối giám định thương tích. N và H5 cũng đã thỏa thuận bồi thường xong cho anh T2 nên hành vi của N, H5 không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 08/6/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H5, N và H6.
Đối với Trần Văn T2 có hành vi đánh T, T3 và cầm 01 con dao ra ngoài đường. Quá trình điều tra xác định khi T2 thấy cậu ruột là anh H3 bị đánh nên mới lao vào đánh T3, T mục đích để can ngăn, T3 và T cũng không bị thương. Khi cầm dao thì T2 cũng không đuổi đánh và gây thương tích cho ai, sự việc diễn ra ngắn nên hành vi của Trần Văn T2 không cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng’ theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự. Ngày 08/6/2024, Công an huyện L đã xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với anh Nguyễn Văn H3 có hành vi đánh T, T3 và hành vi cầm dao. Quá trình điều tra xác định anh H3 là người can ngăn không cho mọi người đánh nhau tại quán do mình quản lý. Khi căn ngăn bị T, T3 đánh nên anh H3 mới đánh lại. Sau đó T, T3 tiếp tục chửi, quăng chai bia về phía anh H3 thì anh H3 có cầm 01 con dao ra đường đứng nhưng không đánh ai. Đào Văn V1 là người có hành vi cầm chai bia ném
T, T3. Quá trình điều tra xác định khi V1 bị T3 kéo xuống và bị T, T3 đánh thì do bức xúc nên V1 có cầm chai bia quăng về phía T, T3 nhưng không trúng ai. Việc chị H2 bị mảnh vỡ chai thủy tinh rơi bắn gây ra 01 vết thương ở lông mày phải, chị H2 không yêu cầu xử lý và không yêu cầu bồi thường nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với thiệt hại ở quán quá trình giải quyết vụ án Trần Công T3 đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn H3 số tiền 6.000.000 đồng, còn đối với chiếc micro quá trình điều tra xác định là do anh V1 vô ý làm dơi nên hành vi nêu trên của T3, anh V1 cùng các đối tượng không cấu thành tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại 01 (một) đầu thu Camera màu đen nhãn hiệu @Jhua, có số SN: 6F00B7DPAZ56659 cho anh Nguyễn Văn H3. Đối với 03 con dao thu giữ trong quá trình điều tra (có đặc điểm nêu trên) Cơ quan điều tra chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam để xử lý theo quy định.
Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 05 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Tân, Hoàng Văn Thắng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
1. - Áp dụng: Điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng: Điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo T1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 10/9/2024, bị cáo Hoàng Văn T1 có đơn kháng cáo với nội dung: xin hưởng án treo.
Ngày 17/9/2024, bị cáo Nguyễn Tiến T có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn tiến T cung cấp thêm một số tài liệu mới gồm: 01 Huy chương “ Vì giai cấp Nông dân Việt Nam”; 01 Huy chương “ Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc”; 01 Huy chương “ Vì Hội chữ thập đỏ Việt Nam” và 01 Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng của ông N1 bị cáo là ông Nguyễn Văn Q.
Bị cáo Hoàng văn T1 cung cấp thêm tài liệu gồm: 01 giấy xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T về việc Hoàng Văn T1 sống tại địa phương luôn chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng và đia phương quy định; có tinh thần trách nhiệm trong việc ủng hộ số tiền 2.000.000 đồng hỗ trợ cho người dân bị thiệt hại do cơn bão số 3 năm 2024 gây ra ( có giấy ghi nhận ngày 11/9/2024), 01 Quyết định số 1446 ngày 26/7/2018 của Bộ về việc: Quyết định Trợ cấp một lần đối với Công dân hỏa tuyến cho bà Nguyễn Thị D là mẹ đẻ của bị cáo T1 và tự nguyện nộp 200.000 đồng tiền án phí của bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, tỏ ra rất ăn năn hối cải, việc truy tố và xét xử các bị cáo về tội “gây rối trật tự công cộng” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai gì. Các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Tiến T. Đề nghị Hội đồng xét xử : Sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T1. Sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật, việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội danh “ Gây rối trật tự công cộng” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai gì. Các bị cáo tỏ ra rất ăn năn hối cải và xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên.
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến T, Hoàng Văn T1 nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến T, Hoàng Văn T1 luôn thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 56 phút ngày 31/5/2023, tại phòng trà Huân H của anh Nguyễn Văn H3 và chị Nguyễn Thị H4 ở thôn B, xã V, huyện L do mâu thuẫn trong việc hát karaoke nên nhóm của Nguyễn Tiến T đã xô xát, đuổi đánh nhau với nhóm của Hoàng Văn T1. Quá trình đánh nhau T cầm gạch, đập vỡ vỏ chai bia đe dọa nhóm của T1, người trong quán và quăng vỏ chai bia vào cửa phòng trà. T1 dùng vỏ chai bia, bàn ghế ném lại và cầm dao đe dọa nhóm của T. Hành vi của Nguyễn Tiến T và Hoàng Văn T1 nêu trên gây mất trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của phòng trà, gây hoang mang, lo sợ và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đã sử dụng hung khí và tham gia trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự
Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xét xử các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo thì thấy:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
*Bị cáo Nguyễn Tiến T có cụ nội Nguyễn Văn Đ là liệt sĩ. Ông ngoại bị cáo là ông Nguyễn Văn Q được tặng nhiều chứng nhận: Chứng nhận Tấm lòng vàng ngày 07/10/2000 của UBMTTQVN tỉnh B; được Hội chữ thập đỏ Việt Nam tặng chứng nhận vì sự nghiệp chữ thập đỏ Việt Nam ngày 20/10/2000; được UBTUMTTQVN chứng nhận vì sự nghiệp đoàn kết dân tộc ngày 19/5/2001. Bị cáo T có hoàn cảnh gia đình vợ mất sớm, là trụ cột gia đình nuôi hai con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Các tình tiết giảm nhẹ này đã được tòa án cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng cho bị cáo được hưởng.
Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên toà hôm nay: Bị cáo Nguyễn tiến T cung cấp thêm một số tài liệu mới gồm: 01 Huy chương “ Vì giai cấp Nông dân Việt Nam”; 01 Huy chương “ Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc”; 01 Huy chương “ Vì Hội chữ thập đỏ Việt Nam” và 01 Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng của ông N1 bị cáo là ông Nguyễn Văn Q. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
* Bị cáo Hoàng Văn T1 có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị D được Bộ trưởng Bộ Y tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp dân số năm 2010, Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen đã có thành tích thực hiện tốt chính sách dân số-KHHGD năm 2009, UBND xã T và
UBND huyện L tặng nhiều giấy khen trong công tác. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ này đã được tòa án cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng cho bị cáo được hưởng.
Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên toà hôm nay: Bị cáo Hoàng văn T1 cung cấp thêm tài liệu gồm: 01 giấy xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T về việc Hoàng Văn T1 sống tại địa phương luôn chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng và đia phương quy định; có tinh thần trchs nhiệm trong việc ủng hộ số tiền 2.000.000 đồng hỗ trợ cho người dân bị thiệt hại do cơn bão số 3 năm 2024 gây ra (có giấy ghi nhận ngày 11/9/2024), 01 Quyết định số 1446 ngày 26/7/2018 của Bộ về việc: Quyết định Trợ cấp một lần đối với Công dân hỏa tuyến cho bà Nguyễn Thị D là mẹ đẻ của bị cáo T1 và bị cáo đã tự nguyện nộp 200.000 đồng tiền án phí của bản án sơ thẩm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân các bị cáo:
Đối với bị cáo Nguyễn Tiến T: Bị cáo bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính ngày 12/7/2016 về hành vi “Đánh nhau”. Ngày 23/01/2017 bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau”.
Đối với bị cáo Hoàng Văn T1: Tại bản án số 44/2007/HSST Ngày 30/7/2007 bị TAND tỉnh Bắc Giang xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hiện Hoàng Văn T1 đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo Nguyễn Tiến T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và bị cáo Hoàng Văn T1 xin hưởng án treo, Xét thấy, Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo Hoàng Văn T1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tình tiết mới do bị cáo cung cấp cho tòa cấp phúc thẩm.
Xét thấy, cần chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm một phần hình phạt cho bị cáo T để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy, bị cáo T1 mặc dù có một nhân thân nhưng từ năm 2007 đến nay đã gần hai mươi năm, quá trình sinh sống tại địa phương có tinh thần trách nhiệm với địa phương nơi cư trú, có vai trò không đáng kể trong vụ án này và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, cần chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T1 để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, cần sửa một phần bản án sơ thẩm
đối với bị cáo Nguyễn Tiến T, Hoàng Văn T1 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tiến T, Hoàng Văn T1 được chấp nhận nên các bị cáo khôngphải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến T. Sửa bản án sơ thẩm số 93/2024/HSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Áp dụng: Điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng văn T1. Sửa bản án sơ thẩm số 93/2024/HSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Áp dụng: Điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo T1 cho Ủy ban nhân dân T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
* Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Nguyễn Tiến T, Hoàng Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Xác nhận bị cáo Hoàng Văn T1 đã nộp xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai 0003212 ngày 09/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trần Thị Hà Phạm Thị Minh Hiền | Đặng Văn Quyết |
Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm về tội "gây rối trật tự công cộng"
- Số bản án: 34/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội "Gây rối trật tự công cộng"
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến T cùng đồng phạm phạm tội " Gây rối trật tự nơi công cộng"
