Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-PT

Ngày 10-3-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Phương

Ông Bùi Đăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Toàn - Kiểm sát viên

Trong các ngày 05 và 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 113/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Phạm Thị Thu H, Phạm Thị Bích X do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Thị Thu H, sinh năm 1978 tại Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú: Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hoàng L và bà Đinh Thị M; Có chồng tên Nguyễn Quốc H1 và có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/01/2005 bị Công an thành phố P xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định số 002753.

Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 30/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P. Có mặt tại phiên toà.

2. Phạm Thị Bích X, sinh năm 1978 tại Bình Thuận. Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Đ và bà Phạm Thị B; Có chồng tên Cao Hoàn V và có 02 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên toà.

- Những người tham gia tố tụng khác:

+ Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị: Huỳnh Văn D, sinh năm 1978 tại Bình Thuận

Địa chỉ: Khu phố 04, phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S – Bộ C1. Có mặt tại phiên toà.

+ Bị hại: Bà Trịnh Thị Mỹ H2, sinh năm 1994 (Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: E T, phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Thu H:

  1. Luật sư Trần Hữu L1 - Công ty L2, thuộc đoàn Luật sư Đ1 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Luật sư Trần Nghiêm Công M1 - Công ty L2, thuộc đoàn Luật sư Đ1 (có mặt)

+ Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Bích X:

  1. Luật sư Nguyễn Thanh T (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Luật sư Đinh Ngọc A (có mặt)
  3. Luật sư Dương Thị Hương T1 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Luật sư Nguyễn Sỹ Thảo M2 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn T và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

Cùng địa chỉ: 203/6/1 H, phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người làm chứng:

+ Bà Trịnh Thị Minh M3, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

+ Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1949 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Cao Hoàn V, sinh năm 1989 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Nguyễn Quốc H1, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

+ Bà Phạm Thị Thu T3, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 25/10/2020 Phạm Thị Thu H, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Văn C, Huỳnh Văn D, Cao Hoàn V và Phạm Thị Bích X đang ở tại nhà của H thì Phạm Thị Thu T3 gọi điện cho H nói: Con Nguyễn Thị Minh M4 đang ở nhà tại số F đường T và kêu H xuống để đòi tiền nợ thì H đồng ý.

Khi nghe điện thoại xong, H nói với H1, C, D, V và X: “Con M4 đang ở nhà, mình đi xuống nhà nó để lấy tiền” thì những người trên đồng ý. H, D, X cùng H1, C và V đi đến nhà của Mỹ tại số nhà F đường T thuộc khu phố A, phường P, Tp P thì gặp T3 đang đứng chờ tại đây. Lúc này, H và T3 đi vào các phòng trong nhà của M4 tìm Mỹ, nhưng không thấy Mỹ, chỉ thấy có bà Đặng Thị T2 (là mẹ của M4) thì H và T3 có lời lẽ to tiếng với bà T2, yêu cầu bà T2 phải kêu Mỹ ra gặp để M4 trả tiền nợ gây ồn ào, Công an phường P nhận được tin đến yêu cầu nhóm của H ra về. Cùng lúc này, Trịnh Thị Mỹ H2 (là em dâu của M4) điều khiển xe mô tô biển số 86C1-924.01 đến nhà bà T2, H2 thấy sự việc ồn ào nên H2 dừng xe mô tô trên lề đường trước số nhà A đường T, H2 xuống xe, đứng chờ nhóm của H ra về để vào nhà bà T2.

Khi Công an phường P yêu cầu nhóm của H giải tán thì H1, C điều khiển xe ô tô ra về trước, còn T3, H, D mỗi người điều khiển xe mô tô, V chở X trên xe mô tô lưu thông trên đường T theo hướng đến giao lộ T và Nguyễn H3. Khi D, H, T3 chạy ngang qua số nhà A đường T thì D nhìn thấy xe mô tô biển số 86C1-924.01 là xe mô tô của M4 sử dụng thường chạy đến nhà của H đang để ở lề đường nên D nói: “Chị T3, chị H, xe của M4 nè” và D, H, T3 điều khiển xe quay lại đến nơi xe mô tô biển số 86C1-924.01, nơi H2 đang đứng. T3 đến dùng tay gạt tay H2 đang đặt trên tay lái xe mô tô và hỏi H2: “Sao không trả tiền cho em tao”, H2 trả lời: “Tôi không biết”, H nói với T3: “Con này không phải con Mỹ”, nghe vậy biết không phải là M4 nên T3 bỏ đi chỗ khác. H hỏi H2: “Xe này con Mỹ hay đi, nó đâu sao không trả tiền cho vợ chồng tao”, rồi H nói tiếp: “Xe này của con Mỹ, mày kêu con Mỹ ra, nó đi với mày”, H2 trả lời: “Tôi không biết”. Do không tìm được bà M4 nên lúc này H nói lớn: “Lấy xe con bầu này về cho tao, xe này con M4 nó hay đến nhà tao, lấy xe về để con Mỹ nó ra gặp tao nói chuyện”, thì H2 nói: “Mấy người là ai, lấy xe tôi báo công an”, thì H trả lời: “Mày báo đi, Công an đang ở dưới nhà mày”. Lúc này, do đang mang thai khoảng 05 tháng, khi thấy nhóm của H đông người, có hành vi chửi bới, hùng hổ sợ bị đánh nên H2 hoảng sợ, cất chìa khóa xe và thấy không còn khả năng lấy lại chiếc xe nên đi bộ về nhà của bà T2 tại số F đường T. Cùng lúc này D nói X ngồi lên xe mô tô biển số 86C1-924.01 để D điều khiển xe khác đẩy về nhà của H, lúc đầu X không đồng ý, nhưng D nói thêm: “Không sao đâu, em ngồi lên để anh đẩy xe về nhà chị H” thì X đồng ý.

Ngày 26/10/2020, H2 đến Công an phường P tố cáo hành vi của H, ngày 27/10/2020 H đến làm việc thừa nhận đang giữ xe mô tô Honda SH Mode, màu xanh nâu, biển số 86C1-924.01 và giao nộp cho Công an phường P.

Vật chứng vụ án:

- Tạm giữ từ Phạm Thị Thu H: 01 xe mô tô biển số 86C1-924.01, hiệu Honda SH Mode, màu xanh nâu, không có chìa khóa;

- Tạm giữ từ Bác sĩ Phan Thị Thu T4 – Trưởng khoa sản Bệnh viện tỉnh B: 01 Giấy chứng sinh (bản sao y) số 00938, quyển 2021 cấp ngày 05/3/2021 cho Trịnh Thị Mỹ H2.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG ngày 27/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận:

01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 86C1-924.01; Tổng giá trị tài sản là 56.000.000 đồng.

Ngày 28/11/2023 Cơ quan điều tra ban hành Công văn số 1257 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P trả lời về việc căn cứ định giá tài sản xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 86C1-924.01 được nêu tại Bản án hình sự phúc thẩm số 41/HSPT ngày 27/4/2023. Ngày 17/01/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P có văn bản trả lời yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp thông tin xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 86C1-924.01 có phanh ABS hay không có phanh ABS.

Ngày 04/3/2024 Chi nhánh Công ty H4 tại Hà Nam có Công văn số 12 xác nhận: Xe Honda, loại JF515 SH Mode, số máy JF87E5053779, số khung RLHJF5154KZ016596, màu xanh nâu, có phanh là CBS.

Ngày 25/3/2024 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố P có văn bản số 05 trả lời về việc Hội đồng định giá trong tổ tụng hình sự thành phố P trước đây nhận định nguyên giá tài sản là xe mô tô SH Mode 86C1-924.01 tại thời điểm 27/9/2019 là có sự nhầm lẫn do tại thời điểm định giá Hội đồng khi tiến hành thực hiện khảo sát thực tế có sơ suất trong việc xác định xe có phanh ABS nên đề nghị Cơ quan điều tra ra yêu cầu định giá tài sản để Hội đồng định giá lại như trường hợp định giá lần đầu theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Nghị định số 30 ngày 07/3/2018 của Chính phủ. Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra yêu cầu định giá về giá trị tài sản trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận:

Xe mô tô biển số 86C1-924.01, nhãn hiệu Honda SH Mode, màu xanh nâu, số máy JF87E5053779, số k hung 5154KZ016596, phanh CBS, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường, thời điêm định giá ngày 25/10/2020 có giá trị là 50.532.933 đồng.

Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 86C1-924.01 cho bà Trịnh Thị Mỹ H2, sau khi nhận lại tài sản bà H2 không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo: Phạm Thị Thu H, Huỳnh Văn D, Phạm Thị Bích Xcùng phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Căn cứ: Điểm c, d khoản 2 Điều 170; khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Thu H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 30/6/2023.

Căn cứ: Điểm c, d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt: 15 (mười lăm) tháng tù tại Bản án số 189/HSST ngày 20/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/11/2021.

Căn cứ: Điểm c, d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Bích X 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên các quyết định khác án phí, xử lý vật chứng và thông báo quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng biết.

Ngày 07 tháng 10 năm 2024, bị cáo Phạm Thị Thu H kháng cáo cho rằng bị oan. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo không phạm tội.

Ngày 10 tháng 10 năm 2024, bị cáo Phạm Thị Bích X kháng cáo xin chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo H: Không đồng ý với bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Những tài liệu được xác định là chứng cứ buộc tội bị cáo Phạm Thị Thu H được thu thập không đúng, không phù hợp nên không thể xem là chứng cứ; Lời khai của bị cáo H, D, T4, H2 có những mâu thuẫn nhưng không cho tiến hành đối chất để làm rõ là không đúng pháp luật; Lời khai của Huỳnh Văn D nhiều lần thay đổi nên không thể xem là lời khai đáng tin cậy để buộc tội bị cáo H. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội cho bị cáo H.

- Ý kiến của bị cáo Phạm Thị Thu H: Đồng ý với lời bào chữa của Luật sư. Bị cáo không có mặt lúc Huỳnh Văn D lấy xe của H2 mà chỉ có mặt trước đó rồi đi theo H2 khi H2 về nhà cô T2 và bị cáo cũng không chỉ đạo D trong việc này.

Trong quá trình điều tra Công an thành phố P đã vi phạm một số thủ tục tố tụng: Không trích xuất camera, không dựng lại hiện trường, việc định giá tài sản không đúng giá trị. Bị cáo không biết việc Trịnh Thị Mỹ H2 đang mang thai nên các cơ quan tiến hành tố tụng của thành phố P kết tội bị cáo về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự là oan sai.

- Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo X: Đồng ý với bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết về tội danh và tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xem xét thêm một số tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo X:

+ X đã tích cực đi tìm bị hại H2 để tự nguyện bồi thường nhưng bị hại không nhận bồi thường vì cho rằng đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, mặc dù vậy bị cáo vẫn nộp tiền vào tài khoản để sẵn sàng bồi thường cho bị hại nên đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

+ Tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại hoặc gây ra thiệt hại không lớn và tình tiết bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bởi vì trong vụ án này bị cáo có vai trò đồng phạm thứ yếu, không đáng kể, tài sản đã được trả lại cho bị hại.

+ Bị hại xin bãi nại và xin giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, đang là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ già và 02 con nhỏ, trong đó có 01 người con dưới 04 tuổi, có nơi cư trú ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên và áp dụng khoản 2 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

- Ý kiến của bị cáo X: Thống nhất với lời bào chữa của luật sư. Vì bị cáo cả nể Huỳnh Văn D, không hiểu biết pháp luật nên đã phạm tội. Bị cáo hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét vai trò, mức độ phạm tội của bị cáo trong vụ án để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được ở ngoài xã hội chăm sóc con nhỏ, cha mẹ già.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Thu H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Bích X, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, giảm cho bị cáo X từ 9 đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị Thu H, Phạm Thị Bích X nộp trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Phạm Thị Thu H cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” là không đúng quy định của pháp luật, bị cáo bị oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo không thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo Phạm Thị Bích X cho rằng mình có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vai trò đồng phạm không đáng kể, là trụ cột kinh tế gia đình, đang nuôi con nhỏ, cha mẹ già nên xin Tòa xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho được cải tạo bên ngoài xã hội.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/10/2020, tại trước sổ nhà A đường T thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Phạm Thị Thu H đi tìm Nguyễn Thị Minh M4 để giải quyết chuyện nợ nần nhưng không gặp, khi thấy bà Trịnh Thị Mỹ H2(là em dâu của Nguyễn Thị Minh M4 mà Phạm Thị Thu H biết vì đã từng gặp trước đó) đang quản lý chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại SH Mode, màu xanh nâu, biển số 86C1-924.01 và biết bà Trịnh Thị Mỹ H2 đang có thai nhưng Phạm Thị Thu H đã có lời nói, hành vi với số lượng người đông nhằm uy hiếp tinh thần của bị hại H2, làm cho bị hại không thể chống cự. Sau đó H yêu cầu Huỳnh Văn D chiếm đoạt xe mô tô này đem về nhà của H, chiếc xe tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá là 50.532.933 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị Thu H và Luật sư bào chữa cho rằng bị cáo bị oan vì không có mặt và không chỉ đạo Huỳnh Văn D lấy xe của H2, đồng thời Cơ quan điều tra Công an thành phố P cũng có những vi phạm trong tố tụng khi điều tra vụ án. Tuy nhiên, đối chiếu lời khai của bị hại H2, bị cáo D, bị cáo X, lời khai của những người làm chứng khác thấy phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở kết luận các bị cáo đã phạm tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự với hai tình tiết định khung hình phạt: “phạm tội đối với phụ nữ mà biết có thai” được quy định tại điểm c và “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” được quy định tại điểm d và bị cáo Phạm Thị Thu H là người có vai trò chỉ đạo.

Do đó, các bị cáo Phạm Thị Thu H, Huỳnh Văn D, Phạm Thị Bích X bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét thấy, hành vi cưỡng đoạt tài sản của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây nguy hiểm cho xã hội nên cần phải được xử lý để bảo đảm tính răn đe và giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với bị cáo H: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H và luật sư bào chữa cho bị cáo đều cho rằng bị cáo H không có hành vi phạm tội, bị oan nhưng cũng không cung cấp được các tình tiết và các chứng cứ mới để chứng minh cho kháng cáo của mình so với những tài liệu, chứng cứ sơ thẩm đã xem xét, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H và lời bào chữa của luật sư. Tòa án sơ thẩm sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức độ thành khẩn khai báo của bị cáo, đã xử phạt Phạm Thị Thu H 04 năm tù là thỏa đáng.

Đối với kháng cáo của bị cáo X, ý kiến của bị cáo và luật sư bào chữa tại phiên tòa thấy rằng: Bị cáo X vì nể nang Dưỡng, không hiểu biết pháp luật nên đã có hành vi phạm tội. Bị cáo phạm tội lần đầu với vai trò đồng phạm giúp sức nhưng có vai trò không đáng kê, không có mục đích vụ lợi, sau khi phạm tội có tinh thần tích cực tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại nên cần áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đối với kháng cáo xin được cải tạo bên ngoài xã hội của bị cáo X: thấy rằng bị cáo phạm tội với khung hình phạt là tội phạm nghiêm trọng, có dấu hiệu băng nhóm và phạm tội nơi đông người làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, mặc dù bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức nhưng cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo thành một công dân lương thiện, chấp hành tốt pháp luật, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về vấn đề này.

[5] Từ những nhận định trên:

Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Thu H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Bích X, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết giảm cho bị cáo X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp.

[6] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo X được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Thu H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đối với bị cáo H:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Bích X. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đối với bị cáo X.

2. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Thị Thu H, Phạm Thị Bích X, phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Căn cứ: Điểm c, d khoản 2 Điều 170; khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Thu H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 30/6/2023.

Căn cứ: Điểm c, d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Bích X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày chấp hành án.

3. Căn cứ: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, 2 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm a, h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Phạm Thị Thu H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

- Bị cáo Phạm Thị Bích X không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10/03/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TA, VKS, CC THADS TP Phan Thiết;
  • - Phân trại tạm giam KV Phan Thiết;
  • - CA phường Phú Hài, Phú Trinh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06 - CAT Bình Thuận;
  • - Lưu: HS, Tổ HCTP;.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 34/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger