|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 34/2025/HS-PT Ngày 10-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;
Ông Nguyễn Hữu Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn C. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 290/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn C sinh năm 1982 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi thường trú: thôn C, xã K, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; nơi tạm trú: khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị T; bị cáo có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C: Ông Ngô Phước C1 - Luật sư Công ty Luật Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
Ngoài ra, còn 01 người đại diện hợp pháp của bị hại và 01 bị đơn dân sự không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S (sau đây gọi tắt là Công ty S); địa chỉ: khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu vào ngày 16/5/2017 do đồng chí Nguyễn Văn C giữ chức vụ Giám đốc công ty và trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty.
Công ty S hoạt động trong lĩnh vực sản xuất cơ khí từ năm 2017 cho đến nay. Việc xây dựng nhà xưởng và lắp đặt máy móc, hệ thống điện và phòng cháy chữa cháy đều do Nguyễn Văn C tự thiết kế thi công mà không thông qua các đơn vị thi công có chuyên môn. Trong thời gian Công ty hoạt động, Nguyễn Văn C với chức vụ Giám đốc đã ký kết hợp đồng lao động với nhiều người để những người này làm công nhân vận hành máy móc trong công ty, trong số những người ký kết hợp đồng lao động với C có ông Châu Lý Minh K. Hợp đồng lao động giữa Công ty S và ông Châu Lý Minh K được ký kết vào ngày 20/02/2024, thời hạn hợp đồng là 12 tháng. Sau khi tuyển dụng người lao động, Nguyễn Văn C không tổ chức tập huấn an toàn lao động và cấp thẻ an toàn lao động cho người lao động trong Công ty trước khi phân công người lao động vận hành máy tiện ren ở trong công ty.
Khoảng 19 giờ ngày 13/5/2024, ông Châu Lý Minh K đi đến Công ty S để làm việc. Khi đến làm việc thì nhiệm vụ của K được phân công quản lý 10 máy tiện răng ốc, vị trí được đánh số thứ tự từ số 31 đến số D. Khoảng 20 giờ cùng ngày khi đang điều khiển vận hành máy tiện số 37 thì ông K1 bị giật điện bất tỉnh và được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B để điều trị nhưng đã tử vong.
Vụ việc được trình báo đến Công an phường K. Sau khi tiếp nhận hồ sơ từ Công an phường K, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành thu lý điều tra, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh B khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đối với ông Châu Lý Minh K.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định hiện trường xảy ra vụ án là nhà xưởng sản xuất ốc, vít của Công ty S tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 47 thuộc khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nhà xưởng có diện tích khoảng 2000m² kết cấu mái tôn, khung kèo thép, nền xi măng, có khu vực máy tạo răng, máy dập đầu, dập đuôi. Tại khu vực máy tạo răng sắt xà vuông trải của nhà xưởng tính từ ngoài vào trong, khu vực này bố trí 23 máy tạo răng, đánh số thứ tự từ 21 đến 44. Tại vị trí máy tạo răng số 37 thấy máy gồm có các bộ phận gồm tủ điện điều khiển, băng tải, bồn rung, máy bằng kim loại. Xung quanh máy tạo răng số 37 có dính nhiều nhớt, phía sau máy số 37 có nhiều sợi dây điện, trong đó có hai sợi dây điện có màu xanh, màu vàng trên các dây điện này có quấn nhiều đoạn băng keo màu đen, hai dây điện này nối vào máy tạo răng và bồn rung, trên sợi dây điện này có nhiều vết bong tróc khúc khích thước 0,1cmx0,5cm. Phía dưới các dây điện này, trên máy tạo răng có nhiều ốc, vít, chất lỏng màu đen. Tủ điện điều khiển của máy số 37 có kích thước 35cmx20cmx18cm, cửa tủ điều khiển bị hỏng, bên trong tủ điều khiển có nhiều vít, công tắc, dây điện, trong tủ điều khiển có dính nhiều nhớt, cửa tủ không có ốc vít gắn vào tủ.
Tại Bản kết luận giám định số 2386/KLGĐTT-KTHS ngày 29/5/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: nguyên nhân chết của nạn nhân Châu Lý Minh K là chạm điện.
Tại Biên bản điều tra tai nạn lao động của Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh B kết luận: Công ty S không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định pháp luật, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật an toàn, vệ sinh lao động; khoản 2 Điều 24 của Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 quy định chi tiết một số điều của luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động và Thông tư số 06/2020/TT-BLĐTBXH ngày 20/8/2020 của Bộ trưởng Bộ L2.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Nguyễn Văn C đã bồi thường cho ông Châu Minh L là cha của bị hại Châu Lý Minh K số tiền 245.000.000 đồng. Ông L không có yêu cầu gì khác và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ cho bị cáo C.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 290/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 26/12/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án treo, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo một phần bản án hình sự sơ thẩm theo hướng xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng hình phạt tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo xin áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã vi phạm các quy định về an toàn lao động, về bảo hộ lao động, xâm phạm tính mạng của người khác. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã bồi thường cho ông Châu Minh L là cha của bị hại Châu Lý Minh K số tiền 245.000.000 đồng và
ông L có đơn bãi nại xin giảm nhẹ cho bị cáo; trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo cũng đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đồng thời, bị cáo là Giám đốc trực tiếp điều hành hoạt động của Công ty S nên việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo sẽ hạn chế nhu cầu đi lại của bị cáo, gây khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng, đối tác trong và ngoài nước, điều này làm ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty S.
Nhận thấy, việc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo, không gây ảnh hưởng đến công tác phòng chống tội phạm tại địa phương, cũng như tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty S nhằm duy trì thu nhập cho gia đình bị cáo và ổn định công việc, tạo nguồn thu nhập cho công nhân đang làm việc tại Công ty, do đó có căn cứ xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 290/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương theo hướng chuyển từ hình phạt tù cho hưởng án treo sang hình phạt tiền đối với bị cáo, xử phạt bị cáo số tiền từ 60.000.000 đến 80.000.000 đồng về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận thêm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt chính là phạt tiền để bị cáo có điều kiện quản lý Công ty.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Bị cáo Nguyễn Văn C là Giám đốc của Công ty TNHH một thành viên S và trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty. Bị cáo Nguyễn Văn C không tổ chức tập huấn an toàn lao động và cấp thẻ an toàn lao động cho người lao động trong công ty trước khi phân công người lao động vận hành máy trong công ty là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật an toàn, vệ sinh lao động; khoản 2 Điều 24 Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 quy định chi tiết một số điều của luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động và Thông tư số 06/2020/TT-BLĐTBXH ngày 20/8/2020 của Bộ trưởng Bộ L2. Đến ngày 13/5/2024, Châu Lý Minh K được phân công quản lý máy tiện răng từ số 31 đến số D, trong quá trình vận hành máy số 37 thì Châu Lý Minh K bị chạm điện dẫn đến tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.
- Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng hình phạt tiền, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo Nguyễn Văn C có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo là Giám đốc trực tiếp điều hành hoạt động của Công ty S nên việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo sẽ hạn chế nhu cầu đi lại của bị cáo, gây khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng, đối tác trong và ngoài nước, điều này làm ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty S. Vì vậy, căn cứ Điều 35 của Bộ luật Hình sự, việc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo, không gây ảnh hưởng đến công tác phòng chống tội phạm tại địa phương, cũng như tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty S nhằm duy trì thu nhập cho gia đình bị cáo và ổn định công việc, tạo nguồn thu nhập cho công nhân đang làm việc tại Công ty. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 290/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là cùng quan điểm với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Người bào chữa thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 290/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương về hình phạt.
- Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn C không phải nộp.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Đức |
Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về an toàn lao động
- Số bản án: 34/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo; sửa bản án sơ thẩm
