Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

 

Bản án số: 34/2025/HS-PT

Ngày 07/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Diệu Hiền
Bà Huỳnh Thị Út mẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 177/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng A, do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thiện T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 235/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo không có kháng cáo: Nguyễn Hoàng A (tên gọi khác: D), sinh năm 1982; Nơi cư trú: số F, đường L, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng D1 và bà Huỳnh Thị H; có vợ tên Trần Thị Mỹ H1 và 02 người con, sinh năm 2007 và 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm gian: Không (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng A: Luật sư Phạm Anh V - Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (Có mặt).

- Bị hại không có kháng cáo:

  1. Huỳnh Thị V1, sinh năm 1960 (vắng mặt).

    Địa chỉ: A, đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị V1: Ông Trần Huỳnh T1, sinh năm 1983, theo giấy ủy quyền lập ngày 09/5/2021 (Có mặt).

  2. Phạm Nhã V2, sinh năm 1986 (vắng mặt).

    Địa chỉ: số A, đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

  3. Phạm Hải Đ, sinh năm 1991 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

    Địa chỉ: số A, đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

  4. Tiêu Chí H2, sinh năm 1978 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

    Địa chỉ: số B, đường C, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

  5. Lê Minh T2, sinh năm 1974 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

    Địa chỉ: số B, đường C, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

  6. Hồ Hoàng H3, sinh năm 1979 (có mặt).

    Địa chỉ: số F, đường L, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

  7. Công ty trách nhiệm hữu hạn T7.

    Địa chỉ: Lô A, đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

    Đã giải thể theo Thông báo số 9566/24, ngày 27/6/2024 của Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh K.

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 gồm:

    • Nguyễn Tường L, sinh năm 1977 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

      Địa chỉ: số B, đường C T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

    • Lê Diệp Đ1, sinh năm 1977 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

      Địa chỉ: số A Q, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Ông Đặng Thiện T, sinh năm 1980 (Có mặt).

Địa chỉ: số A, đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Phạm Văn C - Luật sư Văn phòng Luật sư Phạm Văn C thuộc Đoàn luật sư tỉnh K (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo:

  1. Trần Quang M, sinh năm 1958 (vắng mặt).

    Địa chỉ: A, đường L, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

  2. Tổng Công ty B.

    Địa chỉ trụ sở chính: số A, đường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Xuân V3, chức vụ: Tổng Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Lưu Quang T3, chức vụ: Trưởng phòng giám định bồi thường - Công ty B1, theo giấy ủy quyền số 3051/UQ-BHBV ngày 25/6/2021 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Đặng Thiện T mở cơ sở giữ xe mô tô, ô tô lấy tên Phương A1 tại địa chỉ số A, đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, với giá nhận giữ là 500.000đ/tháng/chiếc (không có giấy phép kinh doanh). Từ khoảng tháng 01/2019, Nguyễn Hoàng A thỏa thuận với ông Đặng Thiện T về việc ông T cho Hoàng A gửi 22 chiếc xe điện đồ chơi trẻ em tại nhà giữ xe Phương A1 với giá tiền là 600.000đ/tháng bao gồm tiền giữ xe và tiền điện sạc cho xe điện đồ chơi trẻ em (chỉ thỏa thuận miệng, không ký hợp đồng). Hàng ngày, vào khoảng 16 giờ Hoàng A điều khiển xe thùng tự chế (dài khoảng 3,5 mét) chở các xe đồ chơi này đến quảng trường Trần Quang K để cho trẻ em thuê, đến khoảng 21 giờ thì chở về gửi tại nhà giữ xe Phương A1 (Hoàng A đậu xe thùng tự chế cách tường phía bên trái khoảng 2,3 mét, cách tường phía sau khoảng 6,3 mét). Đến khoảng 10 giờ ngày hôm sau thì Hoàng A đến kiểm tra xem xe nào gần hết điện thì ghim điện sạc đến khoảng 13 giờ thì đến rút phích cắm ra, mỗi lần sạc khoảng 04 - 05 chiếc xe. Do nhà giữ xe đã có ổ cắm điện sẵn nên Hoàng A mua thêm ổ cắm điện di động có dây dài khoảng 06 mét để cắm vào ổ điện trên tường và kéo xuống nền nhà gần chỗ Hoàng A để xe điện đồ chơi trẻ em để sạc.

Vào khoảng 11 giờ, ngày 05/12/2019, Hoàng A đến nhà giữ xe Phương A1 để cắm sạc khoảng 04 - 05 chiếc xe (còn để trên xe thùng tự chế), sau đó Hoàng A ra về. Đến 13 giờ cùng ngày, Hoàng A không đến nhà giữ xe mà điện thoại nhờ ông Hồ Hoàng H3 (là anh rể của Hoàng A và cũng có xe điện đồ chơi trẻ em gửi tại nhà giữ xe Phương A1) rút điện giúp thì ông Hiệp đồng Ý. Sau đó, ông H3 đến nhà giữ xe thì thấy xe điện đồ chơi của Hoàng A đang sạc thông qua ổ cắm điện di động có công tắc kéo điện từ vách tường của nhà giữ xe nên ông H3 đến tắt công tắc của ổ cắm điện rồi đi về nhà mà không rút phích cắm điện từ ổ cắm điện trên vách tường ra.

Đến khoảng 16 giờ, ngày 05/12/2019, bà Nguyễn Thị Kim P nghe có tiếng nổ lớn bên nhà giữ xe Phương A1 nên ra xem thì nhìn thấy khu vực để xe điện đồ chơi trẻ em của Hoàng A đang bốc cháy. Bà P kéo vòi nước chữa cháy và tri hô cho mọi người xung quanh, nhưng do lửa cháy nhanh nên lan sang nhiều xe ô tô, mô tô đậu trong bãi giữ xe. Sau đó Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn Công an tỉnh K đến tiến hành dập tắt đám cháy. Hậu quả, nhiều xe ô tô, mô tô, xe điện đồ chơi của nhiều người gửi tại nhà giữ xe Phương A1 của ông T bị cháy hư hỏng, cụ thể: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu FORD, biển kiểm soát 68C-075.63 của Huỳnh Thị V1; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu THACO, biển kiểm soát 68C-047.85 của Công ty T7; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu THACO, biển kiểm soát 68C-061.40 của Phạm Nhã V2; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HODA, biển kiểm soát 68X1 - 298.54 của Phạm Hải Đ; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HODA, số loại WAVE, biển kiểm soát 68X1 - 530.55 của Tiêu Chí H2; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HODA, biển kiểm soát 68X1 - 460.82 của Lê Minh T2 bị hư hỏng nặng và 21 chiếc xe điện đồ chơi trẻ em của Hồ Hoàng H3 bị cháy hư hỏng hoàn toàn; 22 xe điện đồ chơi trẻ em của Nguyễn Hoàng A bị cháy hư hỏng hoàn toàn. Ngày 29/4/2020, Nguyễn Hoàng A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố R khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

- Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:

Các mẫu vật trong vụ cháy gồm: mẫu nhựa đã cháy (vị trí số 1), mẫu dây điện nguồn (vị trí thứ 2); mẫu dây điện và nhựa đã cháy của ổ ghim điện rời (vị trí thứ 3) và một số sản phẩm tro tại hiện trường.

- Tại Bản kết luận giám định số 316/C09B, ngày 26 tháng 12 năm 2019 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

  • Vùng cháy đầu tiên tại khu vực nhà giữ xe điện đồ chơi.

  • Điểm xuất phát cháy tại sát nền nhà, cách cửa nhà vệ sinh khoảng 5m và cách tường gạch xây hướng tây nam khoảng 1,1m.

Nguyên nhân gây cháy bãi giữ xe là do tiếp xúc điện không tốt giữa ổ cắm điện và phích cắm cấp nguồn sạc cho bộ sạc ắc-quy dẫn đến hiện tượng phóng điện gây ra vụ cháy trên.

H4 lại đối tượng giám định: Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG, ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R, kết luận như sau:

  • 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại RANGER XLS, màu ghi vàng, 5 chỗ ngồi, số máy P4AT2441126, số khung FF80HW725412, biển kiểm soát 68C-075.63, năm sản suất: 2017, xuất xứ: Việt Nam, đăng ký lần đầu: 29/8/2017, giá trị thiệt hại là 535.626.000₫

  • 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu THACO, số loại K165-CS, màu trắng, 3 chổ ngồi, số máy JT695644, số khung RNHA500BKGC090411, biển kiểm soát 68C-047.85, năm sản xuất: 2016, xuất xứ: Việt Nam, đăng ký lần đầu: 25/5/2016, giá trị thiệt hại là 161.590.000₫;

  • 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu THACO, số loại K165, màu xanh, 3 chỗ ngồi, số máy JT705712, số khung RNHA500BKGC012881, biển kiểm soát 68C-061.40, năm sản xuất: 2016, xuất xứ: Việt Nam, đăng ký lần đầu: 08/12/2016, giá trị thiệt hại là 175.032.000đ;

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu trắng đen bạc, số máy JA39E0767684, số khung 3905HY787496, biển kiểm soát 68X1 – 530.55, đăng ký lần đầu: 14/11/2018, giá trị thiệt hại là 3.620.488đ.

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE FI, màu đen, số máy JC54E3144605, số khung 5376EZ050731, biển kiểm soát 68X1 – 298.54, đăng ký lần đầu: ngày 07/10/2016, xe hư hỏng phần áo xe và đường dây điện, giá trị thiệt hại là 9.200.156₫.

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại PCX150, màu đen bạc, số máy KF30E1001149, số khung 3026JY001084, biển kiểm soát 68X1 – 460.82, đăng ký lần đầu: 19/3/2018, giá trị thiệt hại là 16.779.000đ;

  • Xe điện đồ chơi các loại:

    • + 07 (bảy) xe ô tô điện Nel 803 bốn bánh, đã qua sử dụng, mua vào tháng 11/2018, giá trị thiệt hại là 16.800.000đ;

    • + 11 (mười một) xe Drit điện, đã qua sử dụng, mua vào tháng 11/2018, giá trị thiệt hại là 39.600.000₫;

    • + 14 (mười bốn) xe cào còn điện, đã qua sử dụng, mua vào tháng 11/2018, giá trị thiệt hại là 50.400.000đ;

    • + 04 (bốn) xe mô tô rùa điện, đã qua sử dụng, mua vào tháng 11/2018, giá trị thiệt hại là 11.776.000đ;

    • + 03 (ba) xe mẹ và bé điện, đã qua sử dụng, mua vào tháng 11/2018, giá trị thiệt hại là 10.320.000₫;

    • + 02 (hai) xe ô tô bốn bánh điện, đã qua sử dụng, mua vào tháng 11/2018, giá trị thiệt hại là 6.880.000đ;

    • + 01 (một) xe Vespa lùn điện, đã qua sử dụng, mua vào tháng 11/2018, giá trị thiệt hại là 3.600.000đ;

    • + 01 (một) xe ô tô điện 4 bánh Pollic, đã qua sử dụng, mua vào tháng 11/2018, giá trị thiệt hại là 3.200.000đ.

Tất cả tài sản bị cháy có giá trị thiệt hại tại thời điểm ngày 05/12/2019 là 1.044.424.000đ (một tỷ không trăm bốn mươi bốn triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn đồng).

Trong đó, 02 chiếc xe ô tô điện Nel 803 bốn bánh; 05 chiếc xe Drit điện; 07 chiếc xe cào điện; 03 xe mô tô rùa điện; 01 chiếc xe mẹ và bé điện; 02 chiếc xe bốn bánh điện; 01 chiếc xe Vespa lùn điện; 01 (một) xe ô tô điện 4 bánh Pollic, tất cả đã qua sử dụng của Nguyễn Hoàng A có tổng giá trị thiệt hại là 73.952.000đ.

- Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị hại, người đại diện của bị hại yêu cầu ông Đặng Thiện T chủ bãi giữ xe phải bồi thường giá trị các chiếc xe bị thiệt hại là 996.847.488đ, cụ thể như sau:

  • Ông Trần Huỳnh T1 đại diện cho bà Huỳnh Thị V1 yêu cầu bồi thường 246.126.000đ;

  • Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 (ông L và ông Đ1) yêu cầu bồi thường 161.590.000đ;

  • Ông Phạm Nhã V2 yêu cầu bồi thường 175.032.000đ;

  • Ông Phạm Hải Đ yêu cầu bồi thường 16.779.000đ;

  • Ông Tiêu Chí H2 yêu cầu bồi thường 3.620.488đ;

  • Ông Lê Minh T2 yêu cầu bồi thường 9.200.000đ;

  • Ông Hồ Hoàng H3 yêu cầu bồi thường 95.000.000đ.

Ông T đã bồi thường xong cho Tiêu Chí H2 và Lê Minh T2, riêng bị hại ông Phạm Hải Đ không yêu cầu bồi thường.

Ngoài ra, Công ty B1 đã bồi thường cho bị hại Huỳnh Thị V1 với số tiền là 289.500.000đ, do đó người đại diện theo ủy quyền của Tổng Công ty B là ông Lưu Quang T3 yêu cầu buộc người chịu trách nhiệm bồi thường theo phán quyết của Tòa án hoàn trả lại lại cho Tổng Công ty B số tiền trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 235/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 180, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội: “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585 Bộ luật dân sự, buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Thiện T phải bồi thường cho bà Huỳnh Thị V1 246.126.000đ; ông Nguyễn Tường L và ông Lê Diệp Đ1 161.590.000đ; ông Phạm Nhã V2 175.032.000đ; ông Hồ Hoàng H3 60.000.000đ và hoàn trả cho Tổng Công ty B 289.500.000₫.

Đối với số tiền ông Đặng Thiện T đã bồi thường cho ông Tiêu Chí H2 và ông Lê Minh T2, ông T không yêu cầu buộc bị cáo Hoàng A hoàn trả lại nên không xem xét.

Ngoài ra bản án sơ thẩm quyết định về án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 07/10/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng T4 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung không đồng ý chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bị hại, mà yêu cầu buộc bị cáo Nguyễn Hoàng A và người có liên quan Hồ Hoàng H3 phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo Đặng Thiện T có ý kiến giữ nguyên nội dung kháng cáo.

  • Người đại diện theo ủy quyền của ông T có ý kiến: Do bị cáo Hoàng A sạc điện không an toàn gây thiệt hại cho các bị hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường, chứ không thể buộc ông Đặng Thiện T chịu trách nhiệm bồi thường. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông T.

  • Bị cáo Nguyễn Hoàng A có ý kiến: Ông T nhận giữ xe của các bị hại tại nhà giữ xe của ông mà để bị thiệt hại thì ông T phải chịu trách nhiệm bồi thường cho họ. Bị cáo được ông T cho thuê sử dụng điện mỗi tháng trả cho ông 100.000₫ nên bị cáo chỉ chịu trách nhiệm với ông T.

  • Người bào chữa cho bị cáo Hoàng A có ý kiến: Cơ sở nhận giữ xe của ông T không đảm bảo về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho các chủ xe gởi tại đây thì ông phải chịu trách nhiệm bồi thường cho họ. Việc ông T kháng cáo yêu cầu buộc Nguyễn Hoàng A chịu trách nhiệm bồi thường cho chủ xe là không có cơ sở, đề nghị bác kháng cáo của ông T.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Hoàng H3 có ý kiến yêu cầu buộc ông T phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

  • Đại diện Tổng Công ty B có ý kiến đồng ý theo quyết định của bản án sơ thẩm, không có ý kiến yêu cầu gì khác.

  • Đại diện VKS tỉnh K có ý kiến: Bị cáo Nguyễn Hoàng A là người thực hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại đến tài sản của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thiện T5 là chủ cơ sở nhận giữ xe của các bị hại để xảy ra thiệt hại, nên bị cáo Hoàng A và ông T5 phải cùng có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại. Nhưng cấp sơ thẩm chỉ buộc một mình ông T5 chịu trách nhiệm bồi thường là không đúng. Để đảm bảo quyền lợi của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đặc biệt là quyền kháng cáo) xét thấy cần hủy một phần bản án sơ thẩm để xét xử lại đối với phần trách nhiệm dân sự. Đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 BLTTHS hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm số 235/2024/HSST ngày 24/9/2024 của TAND TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để xét xử lại đối với phần trách nhiệm dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

    Xét đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thiện T về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

  2. Về quyết định của bản án sơ thẩm:

    Ngày 05/12/2019, Nguyễn Hoàng A vô ý không kiểm tra việc rút phích cắm điện dẫn đến hậu quả xảy ra cháy nổ gây thiệt hại nhiều tài sản đang để tại nhà giữ xe Phương A1 của ông Đặng Thiệt T6, địa chỉ số A, đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, với tổng giá trị thiệt hại theo định giá là 970.472.000đ. Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử và kết án bị cáo Nguyễn Hoàng A 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” theo khoản 2 Điều 180 Bộ luật hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo về tội danh, hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đến.

  3. Xét kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thiện T:

    Ông Đặng Thiện T là chủ cơ sở giữ xe Phương A1, kinh doanh dịch vụ giữ xe ô tô, mô tô nhưng không có giấy phép an ninh trật tự, không có giấy phép về phòng cháy, chữa cháy, không có lắp đặt hệ thống phòng cháy, chữa cháy theo quy định, không phân công người trực tiếp quản lý, kiểm tra tài sản gửi giữ nhưng ông đã nhận giữ xe ô tô với giá 500.000đ/chiếc/tháng của nhiều người (là các bị hại trong vụ án) và nhận giữ xe điện đồ chơi trẻ em của Nguyễn Hoàng A, Hồ Hoàng H3 với giá 600.000đ/tháng, trong đó có 100.000₫ là tiền điện sạc xe. Khi ông nhận giữ xe của các bị hại và thu tiền giữ xe của họ là đã phát sinh nghĩa vụ dân sự của ông là bên giữ tài sản đối với bên gửi tài sản theo quy định tại Điều 557 Bộ luật dân sự. Ông có nghĩa vụ phải bảo quản tài sản nhận giữ sao cho an toàn, nếu để xảy ra thiệt hại thì ông phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người gửi, trừ trường hợp bất khả kháng. Vụ cháy xảy ra nguyên nhân do chập điện vì sự bất cẩn vô ý của bị cáo Hoàng A, nhưng ông T có thỏa thuận cho Hoàng A sử dụng nguồn điện tại cơ sở giữ xe của ông để sạc xe điện và phải trả cho ông 100.000đ/tháng, tức Hoàng A sử dụng điện tại cơ sở giữ xe của ông là dưới sự đồng ý và cho thuê của ông T nên không thể xem là trường hợp bất khả kháng.

    Như vậy, ông T nhận giữ xe của các bị hại, lại đồng ý cho Nguyễn Hoàng A sử dụng điện tại nơi giữ xe của mình dẫn đến cháy nổ gây thiệt hại đối với tài sản của các bị hại thì ông T phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với tài sản của họ mà mình đang quản lý, còn việc Nguyễn Hoàng A thuê nguồn điện của ông T nhưng sử dụng không an toàn dẫn đến cháy nổ gây thiệt hại tài sản do ông T đang quản lý thì Hoàng A chịu trách nhiệm với ông T. Tức ông T chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bị hại, thì ông T có quyền yêu cầu Nguyễn Hoàng A bồi hoàn lại cho mình.

    Từ các phân tích trên cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc ông T phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại là có căn cứ, đúng quy định. Kháng cáo của ông T không có cơ sở để chấp nhận; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm để xét xử lại phần trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo Hoàng A và ông T liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt cho các bị hại không có cơ sở để chấp nhận.

  4. Về án phí:

    Do kháng cáo về phần dân sự không được chấp nhận nên ông Đặng Thiện T phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Thiện T đối với phần xử lý trách nhiệm dân sự của Bản án hình sự sơ thẩm số 235/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 557; Điều 584; Điều 585 Bộ luật dân sự, buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Thiện T phải bồi thường cho bà Huỳnh Thị V1 246.126.000đ (Hai trăm bốn mươi sáu triệu một trăm hai mươi sáu nghìn đồng); ông Nguyễn Tường L và ông Lê Diệp Đ1 161.590.000đ (Một trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng); ông Phạm Nhã V2 175.032.000đ (Một trăm bảy mươi lăm triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng); ông Hồ Hoàng H3 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng); hoàn trả cho Tổng Công ty B (Hai trăm tám mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu ông Đặng Thiện T không bồi thường; hoàn trả số tiền nêu trên thì hàng tháng ông T còn phải trả tiền lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  3. Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Ông Đặng Thiện T phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 235/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại Tp. HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Người bào chữa (1);
  • - Bị hại, LQ (13);
  • - CQĐT Tp Rạch Giá (1);
  • - VKS Tp Rạch Giá (1);
  • - Tòa án Tp Rạch Giá (1);
  • - THAHS Tp Rạch Giá (1);
  • - Chi cục THADS Tp Rạch Giá (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Lịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

  • Số bản án: 34/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng A sạc diện làm cháy nổ gây thiệt hại nhiều xe ô tô, mô tô
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger