TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/DS-PT Ngày 07-3-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ứng.
Các Thẩm phán: Ông Dương Hà Ngân và ông Quách Trọng Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Huê, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Dương Phúc Trường – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 151/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 125/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 22/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 01 năm 2025, Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số: 13/TB-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 51/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Đăng H; địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt..
- Bị đơn: Ông Lương Văn M; địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Kim A; địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị A1; địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Vũ Trọng D; địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đức T; địa chỉ: Thôn F, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Đăng H.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31-03-2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Đăng H trình bày:
Năm 2008 ông có nhận chuyển nhượng của ông Lưu Xuân O 01 lô đất tọa lạc tại bon B, xã Q, huyện T. Đến năm 2015 gia đình ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 140, diện tích 433,8m². Năm 2014, gia đình ông Lương Văn M đến mua lô đất bên cạnh, khi ông M làm nhà các bên có chỉ và cắm mốc để gia đình ông M xây nhà, lúc đó không có tranh chấp gì. Đến năm 2017 gia đình ông sửa lại nhà và quán thì gia đình ông M không cho làm phải nhờ đến chính quyền địa phương giải quyết. Gia đình ông M đề nghị gia đình ông khi xây tường nhà để hở 10cm nhằm mục đích sau này có làm nhà kiên cố sẽ không ảnh hưởng đến móng nhà của cả hai bên thì gia đình ông đồng ý. Đến năm 2021 khi gia đình ông tiến hành làm nhà kiên cố thì phát hiện móng nhà ông M đã xây lấn qua nhà ông 10cm. Phần ranh mốc phía sau lô đất đã được đóng cọc bê tông từ trước không có tranh chấp nên ông không có yêu cầu gì.
Nay gia đình ông yêu cầu gia đình ông M phải tháo dỡ tường rào đã xây móng nhà, móng tường lấn sang phần đất của gia đình ông và trả lại ông diện tích đất đang lấn chiếm là 4,2m². Ngoài ra ông không yêu cầu gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lương Văn M trình bày:
Thửa đất của gia đình ông có nguồn gốc nhận chuyển nhượng lại của ông Vũ Trọng D vào năm 2007, với diện tích theo chiều ngang mặt đường liên xã dài khoảng 10,1m, chiều dài khoảng hơn 60m. Đến năm 2012 gia đình ông đã làm nhà và chừa lại 10cm tại phần đất giáp ranh với lô đất của ông H, gia đình ông ở ổn định trên lô đất này không có tranh chấp với ai. Hiện lô đất của gia đình ông chưa được cấp GCNQSDĐ. Đến đầu năm 2023 gia đình ông H cho rằng gia đình ông lấn chiếm diện tích đất phía giáp mặt đường là 12cm, chiều dài vào theo lô đất dài khoảng 35m, có tổng diện tích khoảng 4,2m² và yêu cầu gia đình ông đập móng kè xây bằng đá, móng nhà và tường gạch phía trước trả lại diện tích đất lấn chiếm cho gia đình ông H, gia đình ông không đồng ý.
Quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ bà Nguyễn Thị Kim A trình bày:
Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H (là chồng của bà) yêu cầu gia đình ông M phải trả lại phần diện tích đất lấn chiếm có chiều ngang khoảng 12cm, dài khoảng 35m, phía sau nhà ông M đã xây móng đá cao khoảng 2,5m và phía trước giáp ranh giữa hai nhà đã xây tường gạch cao khoảng 3m, tổng diện tích đất lần chiếm khoảng 4,2m² và yêu cầu dỡ bỏ tường rào đã xây và phần móng nhà, móng tường rào phía sau đã làm lấn sang phần đất của gia đình bà. Ngoài ra không có ý kiến và yêu cầu gì thêm.
Quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị A1 trình bày:
Thống nhất với ý kiến trình bày của bị đơn ông M (là chồng của bà), không có ý kiến và yêu cầu gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng ông Vũ Trọng D trình bày:
Ông không nhớ rõ năm vì thời gian đã lâu ông có chuyển nhượng lô đất có chiều ngang mặt đường rộng 10m và ông có cho thêm 10cm (đất đo ra hơn 10m), chiều dài khoảng hơn 40m không nhớ cụ thể cho ông Nguyễn Đức T. Lúc sang nhượng cho ông T thì đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gần 03 năm sau ông T nói không ở đất này nữa nên ông mua lại. Thời điểm đó không viết giấy tờ gì nữa vì ban đầu khi ông chuyển nhượng cho ông T thì hai bên có viết giấy tờ rồi, khi ông T bán lại đất cho ông thì đưa lại tờ giấy ban đầu. Khi ông trả đủ tiền cho ông T thì tờ giấy sang nhượng đất đấy ông cũng hủy rồi. Sau một thời gian ông sang nhượng lô đất này lại cho ông M, khi đo đạc giao trên thực địa là 10,1m, chiều dài là hơn 60m. Lúc đó đất cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chỉ lập giấy tờ sang nhượng viết tay để ông M giữ. Khi ông sang nhượng thì có chỉ ranh giới, đóng cọc sắt và bàn giao đất cho ông M quản lý, sử dụng. Nay giữa ông M và ông H xảy ra tranh chấp ranh giới không liên quan gì đến ông vì diện tích đất trên ông đã sang nhượng anh cho ông M từ lâu và khi sang nhượng thì không có tranh chấp với ai.
Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng ông Nguyễn Đức T trình bày:
Ông không có quan hệ gì với gia đình ông H và gia đình ông M. Vào năm 2008 ông có nhận chuyển nhượng của gia đình ông D 01 lô đất có chiều ngang mặt đường là 10m, chiều dài đến con đường đất phía sau khoảng hơn 40m, diện tích lô đất khoảng 400m² tọa lạc tại bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Năm 2012 ông sang nhượng lại lô đất này cho ông M, khi sang nhượng đất thì đất chưa có GCNQSDĐ nên hai bên có viết giấy tờ tay. Khi sang nhượng ông giao và chỉ mốc rõ ràng cho ông M để ông M quản lí, sử dụng. Nay giữa ông M và ông H xảy ra tranh chấp ranh giới không liên quan gì đến ông.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS-ST ngày 23-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 95; Điều 147; Điều 157; Điều 158 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; căn cứ Điều 158 và Điều 164 Bộ luật Dân sự; căn cứ Điều 100; Điều 166 và Điều 203 của Luật đất đai; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phi Tòa án, tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Lê Đăng H đối với ông Lương Văn M về việc yêu cầu trả lại diện tích đất là 4,2m² tọa lạc tại bon Bu D xã Q, huyện T, tỉnh Đăk Nông.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 03-10-2024, nguyên đơn ông Lê Đăng H kháng cáo đề nghị xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 04-10-2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông kháng nghị yêu cầu hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên yêu cầu kháng nghị; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thay đổi yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông:
- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông trong thời hạn luật định.
[1.2]. Về thủ tục thu thập chứng cứ: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm là 4,2m² (ngang 12cm, dài 35m). Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ghi nhận tại vị trí đất tranh chấp, bị đơn đã xây dựng nhà ở kiên cố. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện thủ tục thẩm định giá tài sản khi các đương sự không thỏa thuận được về giá để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án trong trường hợp xác định có tranh chấp và không thể di dời công trình xây dựng trên đất. Tuy nhiên cấp sơ thẩm không thực hiện thủ tục thẩm định giá tài sản là vi phạm tố tụng. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm nêu ra để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
[2]. Xét nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu kháng cáo:
[2.1]. Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 4,2m² có chiều ngang (giáp mặt đường) dài 12cm, chiều dài khoảng 35m và tháo dỡ công trình trên đất thuộc một phần thửa đất số 298, tờ bản đồ số 140, diện tích 433,8m² đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2015 cho nguyên đơn. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện tại vị trí đất tranh chấp, bị đơn đã xây nhà kiên cố từ năm 2012, sau đó nguyên đơn là hộ giáp ranh cũng đã xây nhà vào năm 2022.
[2.2]. Tại kết quả đo đạc lồng ghép xác định, bị đơn sử dụng diện tích đất 4.0m² (phía Bắc - phía trước lô đất giáp đường nhựa liên xã rộng 0.04m, phía Nam - phía sau lô đất giáp đường đất rộng 0.37m, phía Đông giáp đất của bị đơn dài 69,22m, phía Tây giáp đất nguyên đơn) nằm trong một phần thuộc thửa đất số 298, tờ bản đồ số 140 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn năm 2015. Tuy nhiên, nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất đang tranh chấp có chiều ngang dài 4cm, chiều dài tính từ phía giáp đường nhựa kéo dài khoảng 35m, phần đất phía sau các bên thừa nhận đã có mốc giới rõ ràng và không phát sinh tranh chấp. Như vậy, việc xác định vị trí, diện tích đất tranh chấp theo kết quả đo đạc, lồng ghép của cơ quan chuyên môn là 4.0m² là có cơ sở.
[2.3].Tuy nhiên, do thửa đất của nguyên đơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ theo tờ bản đồ giấy, không có tọa độ vị trí nên việc lồng ghép có sai số về mặt tọa độ, đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã tiến hành xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng kýđất đai huyện T (là cơ quan trực tiếp đo đạc) đã xác định vị trí sai số dao động từ 5cm – 8cm, trong đó kết quả đo đạc xác định chiều ngang phần đất tranh chấp chỉ dài 4cm là nằm trong khả năng sai số.
[2.4].Từ những nhận định, phân tích nêu trên, xét thấy kết quả lồng ghép chỉ mang tính tương đối và các bên đương sự cũng đã xây dựng nhà ở kiên cố, quá trình bị đơn xây nhà, nguyên đơn biết nhưng không có ý kiến phản đối. Do đó việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ công trình, trả lại diện tích đất cho nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận. Việc Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với quy định của pháp luật và hiện trạng đất các bên đang sử dụng.
[2.5]. Từ những vấn đề phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông; không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2.6]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Đăng H; không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS-ST ngày 23-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
1. Căn cứ Điều 158 và Điều 164 Bộ luật Dân sự; căn cứ Điều 100; Điều 166 và Điều 203 của Luật đất đai; căn cứ Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phi Tòa án; Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Lê Đăng H đối với ông Lương Văn M về việc yêu cầu trả lại diện tích đất là 4,2m² tọa lạc tại bon Bu D xã Q, huyện T, tỉnh Đăk Nông.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Lê Đăng H phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng (hai sáu triệu đồng). Ông Lê Đăng H đã nộp đủ số tiền này tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lê Đăng H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002577 ngày 10-4-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Lê Đăng H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007966 ngày 07-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Ứng |
Bản án số 34/2025/DS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 34/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm
