Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HSST

Ngày: 06/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Sơn

2. Ông Đặng Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/NGUYỄN PHƯỚC Đ – sinh năm 2003; Tên gọi khác: Nho Me; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ sơn. Trình độ học vấn: 9/12. Cha: Không xác định; Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1979; Hiện đang làm thuê và trú tại khu phố A, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

2/TRƯƠNG QUANG T2 – Sinh năm 2001; tên gọi khác: Sói; Giới tính: nam; Nơi sinh: Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 9/12. Cha: Trương Văn T1 (đã chết); Mẹ: Trương Thị Ú, sinh năm 1961; Hiện đang làm nông và trú tại khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 24/3/2022, Trương Quang T2 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 BLHS, tại Bản án số 32/2022/HSST, chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 03/12/2023 (chưa xoá án tích). Nhân thân: Ngày 28/9/2021, Trương Quang T2 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, phương thức: phạt tiền, mức phạt: 2.500.000 đồng. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

3/NGUYỄN VĂN T11 - Sinh năm 1993. Tên gọi khác: C; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 12/12. Cha: Nguyễn Văn P, sinh năm 1973; Mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1970; Hiện cả hai đang làm nông và trú tại khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ nhất. Vợ: Trương Tiến Quỳnh L1, sinh năm 1992; Hiện đang buôn bán và trú tại khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có 1 người con, sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

4/TRẦN DUY T12 – Sinh năm 1996; tên gọi khác: Lô; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 12/12. Cha: Trần Văn T3, sinh năm 1975; Mẹ: Đặng Thị Thúy T4, sinh năm 1975; Hiện cả hai đang buôn bán và trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Nguyễn Phương T5, sinh năm 1997; Hiện làm nội trợ và trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có 2 người con, lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • 1/Phạm Chí Huy, sinh năm 2001;
  • Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 2/Lê Tấn T6, sinh năm 1995;
  • Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 3/Nguyễn Thị Minh Phương, sinh năm 1964;
  • Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 4/Trần Ngọc K, sinh năm 1998;
  • Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 5/Nguyễn Thị N1, sinh năm 1961;
  • Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 6/Trương Hoàng Anh H4, sinh năm 1999;
  • Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 7/Trương Công Trình, sinh năm 1993;
  • Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • H6, sinh năm 1994;
  • Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 9/Trương Quang T14, sinh năm 1999;
  • Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 10/Nguyễn Văn P, sinh năm 1973;
  • Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

2

Tất cả vắng mặt.

*Người làm chứng:

  • 1/Phạm Tấn Đạt, sinh năm 1999;
  • Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 2/Trần Sơn Lam, sinh năm 1997;
  • Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 3/Trần Anh K, sinh năm 1997;
  • Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 4/Nguyễn Huỳnh Ngọc T7, sinh năm 2005;
  • Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 5/Trần Thị Bích Trâm, sinh năm 2003;
  • Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 6/Trần Thị Thanh Ngân, sinh năm 1998;
  • Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 03/4/2024, Nguyễn Văn H (H1), Lê Tấn T6, và Trần Thị Thanh N tổ chức nhậu ở phía sau nhà H tại thôn P, xã H, huyện H. Sau đó, có 02 người phụ nữ đi cùng nhóm thanh niên khoảng 10 người (hiện chưa xác định nhân thân) trên 03 xe ô tô đến nhà H tìm N lấy tiền nợ huê nhưng không gặp N mà gặp bà Nguyễn Thị N1 là mẹ ruột của H. Hai bên xảy ra đánh nhau, một lúc sau, 02 người phụ nữ cùng nhóm thanh niên bỏ đi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H điện thoại cho Phạm Chí H2 (H) rủ đến nhà Hoàng nhậu, sau đó Phạm Chí H2 điện thoại cho Nguyễn Huỳnh Ngọc T7 (là bạn gái của H2) cùng đến nhà H ngồi nhậu. Tại đây, H kể lại sự việc trên cho Phạm Chí H2 nghe. Khoảng 22 giờ cùng ngày, trong lúc ngồi nhậu, Phạm Chí H2 nói H lấy khẩu súng ngắn ra xem, H đi vào trong phòng lấy khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen, không có nhãn hiệu, bên trong có 02 viên đạn ra để trên bàn nhậu. T6 cầm khẩu súng lên xem, T7 sử dụng điện thoại Iphone X của T7 chụp lại hình ảnh khẩu súng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H2 cầm khẩu súng bắn 01 phát hướng lên trời, còn lại 01 viên đạn trong khẩu súng. Khi nghe tiếng súng nổ thì Trương Hoàng A H2 nói với Trương Công T8, Trần Ngọc K và Trần Thị Bích T9, sinh năm 2003, trú tại thôn P, xã H: “điện báo Công an”. H nghe được việc Trương Hoàng A H2 nói báo công an thì sợ nên H nói Phạm Chí H2, T6 và T7 đi về. Phạm Chí H2 mượn khẩu súng ngắn của H mang về. Sau đó, Phạm Chí H2 điều khiển xe mô tô chở T7, còn T6 điều khiển xe mô tô đi một mình về. Khi đi ngang qua nhà bà P1 nghe có ai đó trong nhóm Trương Hoàng A H2 kêu lại, Phạm Chí H2 tưởng gọi mình nên quay xe lại dừng trên đường trước nhà bà P1. Thấy Phạm Chí H2 đứng nên T8 cầm ghế nhựa cùng K chạy ra cổng đến chỗ Phạm Chí Huy đứng; Anh H2 lấy 01 cây dao loại dao gọt trái cây, dài khoảng 15cm, cán nhựa dài 05cm, lưỡi dao bằng kim loại trắng dài 10cm cầm chạy theo sau ra gặp Phạm Chí H2. T8 hỏi: “mày Chí Huy Ma L2 đúng không?”, Phạm Chí H2 trả lời: “ờ, rồi sao mày!”. T8 cầm ghế nhựa đánh Chí H2 từ trên xuống, K dùng tay siết cổ Chí H2. Do bị đánh, Chí

3

H2 lấy khẩu súng ngắn bắn 01 phát trúng vào tay của K gây thương tích thì bị T8 và K dùng tay, chân đấm đá nhiều cái vào người làm khẩu súng ngắn trên tay Phạm Chí H2 văng qua hàng rào nhà ông Nguyễn Sỹ T10 ở gần đó. Cùng lúc này, Anh H2 chạy đến dùng cây dao mang theo đâm Phạm Chí H2 gây thương tích, Phạm Chí H2 dùng tay chụp cây dao làm đứt tay. Thấy Phạm Chí H2 bị đánh nên T6, T7 và bà P1 chạy đến can ngăn nhưng không được. Trong lúc can ngăn, T6 bị Anh H2 cầm dao đâm 01 nhát trúng bụng chảy máu nên bỏ chạy đến nhà nhờ H đưa đến Trung tâm y tế huyện H cấp cứu. K tiếp tục kéo Phạm Chí H2 đến trước gần cổng nhà Anh H2 rồi cùng T8 dùng tay, chân đấm, đá nhiều cái vào người Phạm Chí H2; Anh H2 cầm dao đâm làm Phạm Chí H2 nằm bất tĩnh trên đường nhựa. K thấy tay bị chảy máu nên nhờ T9 đưa đến Trung tâm y tế huyện H cấp cứu. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, khi T7 đi bộ đến Ngã ba 19, thuộc thôn P, xã H tìm người đến giải vây cho Phạm Chí H2 nên đã điện thoại cho Trương Quang T2 (S), sinh năm 2001 và Nguyễn Văn T11 (C), sinh năm 1993, cùng trú tại khu phố L, thị trấn M, huyện H nói Phạm Chí H2 bị đánh và nhờ đến đưa đi cấp cứu. Lúc này, Trương Quang T2 đang ngồi nhậu tại nhà của Nguyễn Phước Đ (N), sinh năm 2003, trú tại khu phố A, thị trấn M. Nghe việc H2 bị đánh, Đ vào nhà lấy 01 khẩu súng ngắn, bên trong có 04 viên đạn (loại đạn cao su) cất trong người và ra phía sau nhà lấy 01 cây kiếm tự tạo bằng kim loại, dài 98cm, cán tròn dài 38cm, lưỡi kiếm dài 60cm mang ra chuẩn bị đi thì Quang T2 hỏi Đ: “mang kiếm theo để làm gì”, Đ trả lời: “cầm theo để phòng ngừa”. Quang T2 biết rõ Đ mang theo hung khí để đi đánh nhau nên đồng ý điều khiển xe mô tô biển số 86B3-810.77 chở Đ đến Ngã ba 19. Thời điểm này, Nguyễn Văn T11 đang ngồi nhậu cùng với Trần Duy T12 (Lô), sinh năm 1996, trú tại thôn P, xã H; Phạm Tấn Đ1, sinh năm 1999, trú tại khu phố C, thị trấn M; Trần Anh K1 (B), sinh năm 1997 và Trần Sơn L3 (C1), sinh năm 1997, cùng trú tại khu phố A, thị trấn M tại quán “Cô Ú”, ở khu phố A, thị trấn M. T11 kể lại sự việc T7 gọi điện thoại báo Chí Huy bị đánh trên km 19 và kêu mọi người lên đưa Chí H2 đi Bệnh viện thì cả nhóm đồng ý. L3 điều khiển xe mô tô chở Tấn Đ1; Anh K1 điều khiển xe mô tô chở T12; T11 điều khiển xe mô tô biển số 86B3-076.03 đi một mình cùng đến Ngã ba 19. Khi đến trước nhà bà P1, thấy Chí H2 đang nằm bất tĩnh trên đường, Nguyễn Phước Đ cầm cây kiếm mang theo rượt đuổi, chém T8 và A H2 chạy vào trong nhà. Trong lúc chạy vào trong sân nhà, bà P1 đứng trên sân thì bị Đ cầm kiếm chém trúng tay và mặt gây thương tích. Sau đó, Đ cầm cây kiếm đập lên bàn nhậu bên hông nhà thì bị T8 và Anh H2 cầm rựa rượt đuổi chạy ra ngoài đường. Lúc này, T11 và Duy T12 chạy đến, Duy T12 nhặt đá trên đường, T11 lấy nón bảo hiểm mang theo ném vào cửa cổng nhà P1 gây ra những tiếng động lớn. Do bị rượt đuổi và ném đá nên T8 và A H2 chạy vào lại trong sân nhà. Thấy vậy, Quang T2 đứng ngoài lớn tiếng chửi những lời tục tĩu. Nguyễn Phước Đ chửi lớn thách thức: “đụ má! mày ngon mày ra đây!”. Nguyễn Văn T11 la chửi: “đụ má! sao tụi mày đánh em tao!” rồi T11 thách thức đánh nhau với T8 và Anh H2 đứng bên trong sân. Khi thấy Quang T2 và những người đi cùng đưa Chí H2 lên xe thì T8, Anh H2 cầm hung khí chạy ra đến cổng. Lúc này, Đ lấy khẩu súng ngắn mang theo bắn về hướng T8 và Anh H2 04 phát, nổ: đùng! đùng! đùng! đùng! nhưng không trúng ai. Nghe tiếng súng nổ thì T8 và A H2 chạy vào lại trong nhà. Phạm Chí H2

4

được đưa đến Trung tâm y tế huyện H cấp cứu. Thấy bà P1 bị thương tích, T8 cầm cây rựa, Anh H2 cầm cây dao chạy đến nhà bà N1 (mẹ của H) tìm H nhưng không gặp. Tại đây, T8 dùng rựa đập bể 01 tấm kính có kích thước (1,4 x 0,54)m, dày 04mm, loại kính mờ, ở gian nhà trước và 01 tấm kính có kích thước (1,4 x 0,49)m, kính dày 04mm, loại kính mờ bên hông nhà. Khi đến Trung tâm y tế huyện H, Nguyễn Phước Đ sợ Công an phát hiện nên ném khẩu súng ngắn ra phía sau Trung tâm y tế huyện H và mang cây kiếm tự tạo về nhà cất giấu, sau đó đã giao nộp cho cơ quan Công an để xử lý theo quy định.

Theo biên bản xác minh ngày 13/11/2024 tại UBND xã H thì khu vực trên đường nhà bà Nguyễn Thị Minh P1, sinh năm 1964, ở thôn P, xã H, huyện H là khu vực đông dân cư, có nhiều nhà dân sinh sống đông đúc hai bên đường. Sự việc một số đối tượng đánh nhau, sử dụng súng bắn gây tiếng nổ và la chửi, thách thức đánh nhau trước nhà bà P1 vào khoảng 23 giờ ngày 03/4/2024 đã gây náo động, làm mất an ninh trật tự tại khu vực dân cư sinh sống và làm ảnh hưởng xấu trật tự tại địa phương.

Tại bản kết luận giám định số 3049/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • - Khẩu súng gửi giám định là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc loại súng ngắn ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn cao su cỡ (9 x 22)mm, không phải là vũ khí quân dụng.
  • - 05 vỏ đạn gửi giám định là vỏ đạn của đạn cao su cỡ (9 x 22)mm, không phải là vũ khí quân dụng, trong đó có: 01 vỏ đạn do khẩu súng nêu trên bắn ra; 04 vỏ đạn còn lại không phải do khẩu súng nêu trên bắn ra.
  • H3 lại đối tượng giám định: 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, không có nhãn hiệu, số hiệu và 05 võ đạn ký hiệu YAS GLD PAK 9mm được niêm phong trong phong bì màu trắng có chữ ký của Phan Xuân T13, Lê Huỳnh K2 và dấu tròn màu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận như sau:

  • - 02 tấm kính có kích thước (1,4 x 0,54)m, kính dày 04mm, loại kính mờ, có hoa văn được gắn trên 02 cánh cửa bằng sắt, tại thời điểm định giá ngày 03/4/2024 có giá trị 529.200 đồng.
  • - 02 tấm kính có kích thước (1,4 x 0,49)m, kính dày 04mm, loại kính mờ, có hoa văn được gắn trên 02 cánh cửa bằng sắt, tại thời điểm định giá ngày 03/4/2024 có giá trị 480.200 đồng.

Tổng giá trị bị hư hỏng là 1.009.400 đồng.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 611/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 19/7/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của bà Nguyễn Thị Minh P1 như sau:

  • - Vết thương phần mềm vùng gò má phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (02 x 0,1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3%.
  • - Vết thương phần mềm lòng bàn tay phải ở kẻ ngón II - III đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (03 x 0,1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.

Kết luận: Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ

5

phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Minh P1 tại thời điểm giám định là 4%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: - Các vết thương do vật sắc gây ra.

- Hiện không xác định cố tật.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 610/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 19/7/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Trần Ngọc K như sau:

  • - Vết thương mặt sau dưới cánh tay trái đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (3,5 x 0,7)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.

Kết luận: Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trần Ngọc K tại thời điểm giám định là: 2%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: - Vết thương do vật tày gây ra.

- Hiện không xác định cổ tật.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 616/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 01/8/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Lê Tấn T6 như sau:

  • - Vết thương phần mềm vùng hạ sườn phải, thoát vị thành vụng hạ sườn phải đã được điều trị ổn định, để lại sẹo lành kích thước: (1,7 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.

Kết luận: Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Tấn T6 tại thời điểm giám định là: 1%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: - Vết thương do vật sắc nhọn gây ra.

- Hiện không xác định cố tật.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 617/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 24/7/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Phạm Chí H2 như sau:

  • - Vết thương vùng đỉnh đầu trái đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (02 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
  • - Vết thương mặt lòng ngón 1 bàn tay trái đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước (1,7 x 0,1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
  • - Vết thương mặt lòng đốt xa ngón 3 bàn tay trái đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (02 x 0,1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
  • - Vết thương gan bàn tay trái đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (0,5 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
  • - Vết thương mặt sau khuỷu tay phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước (02 x 0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.

6

  • - Sây sát da vùng mặt, sưng nề gò má, bầm quanh mi mắt, xuất huyết kết mạc đã được điều trị hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Kết luận: Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Phạm Chí H2 tại thời điểm giám định là: 5%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: - Các vết thương vùng đỉnh đầu trái, mặt sau khuỷu tay phải do vậy tày gây ra; Các vết thương mặt lòng ngón 1 bàn tay trái, mặt lòng đốt xa ngón 3 bàn tay trái, gan bàn tay trái do vật sắc gây ra.

- Hiện không xác định cố tật.

Trong quá trình điều tra xác minh, ngày 26/7/2024 và 29/7/2024, Trần Ngọc K, Lê Tấn T6, Phạm Chí H2 và bà Nguyễn Thị Minh P1 đã tự nguyện làm đơn bãi nại, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với những người đã tham gia và gây ra thương tích cho mình.

Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng; 01 đôi dép da quai ngang màu đen; 01 nón lưỡi trai bằng vải có bám dính tạp chất màu nâu đỏ và 01 đôi dép có ký hiệu GLAVV. Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã xử lý giao trả lại cho Nguyễn Huỳnh Ngọc T7, Phạm Chí H2 và Trần Ngọc K, là những chủ sở hữu theo quy định.

Đối với 01 cây kiếm tự tạo bằng kim loại màu bạc dài 98cm, cán kiếm hình tròn dài 38cm, lưỡi kiếm dài 60cm, chiều ngang lưỡi kiếm 04cm (của Nguyễn Phước Đ giao nộp); 01 nón bảo hiểm bị bể và 01 ốp xốp nón bảo hiểm (của Nguyễn Văn T11); 04 võ đạn đồng ký hiệu YAS GLD PAK 9mm và mãnh vở thủy tinh màu xanh là những vật chứng của vụ án. Toàn bộ số vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã ra quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.

Đối với 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen không có ký hiệu và 01 võ đạn đồng ký hiệu YAS GLD PAK 9mm. Cơ quan CSĐT - Công an huyện H sẽ chuyển đến Công an huyện H để xử lý theo quy định.

Đối với 01 đĩa DVD có chứa 03 đoạn video clíp (01 đoạn video clip dài 01 phút 23 giây; 01 đoạn video clip dài 02 phút 07 giây và 01 đoạn video clip dài 02 phút 22 giây) ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ án gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 03/4/2024 tại Ngã ba km 19, thuộc thôn P, xã H, huyện H, được chuyển theo hồ sơ cùng vụ án.

Đối với xe mô tô biển số 86B3-810.77 (xe của Trương Quang T14 là anh ruột của T13 làm chủ sở hữu) và xe mô tô biển số 86B3-076.03 (xe của ông Nguyễn Văn P là cha ruột của T11 làm chủ sở hữu). Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H không thu giữ.

Đối với 01 ghế nhựa (của bà Nguyễn Thị Minh P1), 01 cây rựa và 01 cây dao loại dao gọt trái cây, dài khoảng 15cm, cán nhựa dài 05cm, lưỡi dao bằng kim loại trắng dài 10cm (theo lời khai của Trương Hoàng Anh H4) và 01 khẩu súng ngắn (của

7

Nguyễn Phước Đ) sau sự việc xảy ra bà P1, Anh H4 và Nguyễn Phước Đ đã ném bỏ nên không thu giữ được.

Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Minh P1; anh Trần Ngọc K, Lê Tấn T6 và Phạm Chí H2 không yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSHTB ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo Nguyễn Phước Đ, Trương Quang T2, Nguyễn Văn T11, Trần Duy T12 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX xử phạt: Bị cáo Trương Quang T2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước Đ từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX xử phạt: Bị cáo Trần Duy T12 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm. Bị cáo Nguyễn Văn T11 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

b) Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cây kiếm tự tạo bằng kim loại màu bạc dài 98cm, cán kiếm hình tròn dài 38cm, lưỡi kiếm dài 60cm, chiều ngang lưỡi kiếm 04cm (của Nguyễn Phước Đ giao nộp); 01 nón bảo hiểm bị bể và 01 ốp xốp nón bảo hiểm (của Nguyễn Văn T11); 04 võ đạn đồng ký hiệu YAS GLD PAK 9mm và mãnh vở thủy tinh màu xanh là những vật chứng của vụ án.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo không trình bày gì.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện H; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người

8

tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Phước Đ, Trương Quang T2, Nguyễn Văn T11, Trần Duy T12 khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 03/4/2024, tại đường nhựa phía trước nhà bà Nguyễn Thị Minh P1, thuộc thôn P, xã H, huyện H, đây là khu vực đông dân cư, sau khi xảy ra đánh nhau giữa Phạm Chí H2, Lê Tấn T6 với Trương Hoàng Anh H4, Trương Công T8 và Trần Ngọc K, Chí H2 đã dùng súng ngắn bắn 01 phát trúng vào tay của Ngọc K gây thương tích 2%; Anh H2, T8 và Ngọc K đã dùng dao gây thương tích cho Chí H2 5% và gây thương tích cho Lê Tấn T6 1%. Sau đó, Nguyễn Huỳnh Ngọc T7 đã gọi điện thoại cho Trương Quang T2 và Nguyễn Văn T11 đi cùng với Nguyễn Phước Đ, Trần Duy T12, Phạm Tấn Đ1, Trần Anh K1 và Trần Sơn L3 đến phía trước gần nhà anh H2 để đưa Chí H2 đi Bệnh viện. Khi đến trước nhà Anh H2 thì Nguyễn Phước Đ đã dùng kiếm tự tạo bằng kim loại mang theo rượt đuổi đánh T8, A H2 và chém bà P1 gây thương tích 4%. Cùng lúc này, Nguyễn Văn T11 và Trần Duy T12 chạy đến, Trần Duy T12 nhặt đá trên đường, T11 lấy nón bảo hiểm mang theo ném về cửa cổng nhà bà P1 gây ra những tiếng động lớn. Sau đó, Quang T2, Đ, T11 đứng ngoài chửi tục, chửi thề, thách thức lớn tiếng. Đ tiếp tục sử dụng khẩu súng ngắn mang theo bắn 04 phát về hướng T8 và A H2 gây ra những tiếng nổ lớn, làm náo động tại khu vực đông dân cư. Hành vi dùng đá, nón bảo hiểm ném vào cửa cổng; chửi tục, chửi thề, la hét, thách thức đánh nhau lớn tiếng; dùng súng bắn gây tiếng nổ lớn của Nguyễn Phước Đ, Trương Quang T2, Nguyễn Văn T11, Trần Duy T12 đã gây náo động làm mất trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương và làm cho những người dân sinh sống xung quanh hoang mang, lo sợ nên đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Riêng Trương Quang T2 đã bị kết án về tôi gây rối trật tự công cộng” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Phước Đ, Trương Quang T2, Nguyễn Văn T11, Trần Duy T12 đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng Nguyễn Văn T11 có bà nội ruột là bà Nguyễn Thị B là người có công với cách mạng được Nhà

9

nước tặng kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày và Huân chương kháng chiến hạng nhất, Trần Duy T12 có hoàn cảnh gia đình khó khăn đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về hình phạt: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo Nguyễn Phước Đ, Trương Quang T2, Nguyễn Văn T11, Trần Duy T12 nghe tin Phạm Chí H5 bị nhóm của Trương Hoàng Anh H4 đánh bất tỉnh thì tất cả các bị cáo đến nhà Trương Hoàng Anh H4 đánh lại nhóm của Trương Hoàng Anh H4, chửi bới đập phá cửa cổng nhà Anh H4 ngoài đường gây náo loạn khu vực đông dân cư ở thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự địa phương, gây bất bình, bức xúc trong đời sống nhân dân cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc.

[5.1]Xét bị cáo Nguyễn Phước Đ là người hoạt động rất tích cực, cầm kiếm tự tạo rượt đuổi chém mọi người ở đó rồi dùng súng bắn, cùng các bị cáo khác chửi bới, la hét và đe dọa thách thức mọi người gây ồn ào mất an ninh trật tự tại địa phương. Đối với bị cáo Trương Quang T2 đã bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” trong thời gian chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật cần phải xử phạt nghiêm khắc cách ly cả hai bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5.2]Xét bị cáo Nguyễn Văn T11 dùng nón bảo hiểm và Trần Duy T12 dùng đá ném vô cửa cổng nhà bà P1 nhưng xét hai bị cáo tham gia với vai trò thứ yếu và hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi ở ổn định, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục là đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.

[6]Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Minh P1; anh Trần Ngọc K, Lê Tấn T6 và Phạm Chí H2 không yêu cầu bồi thường gì nên Tòa không xem xét.

[7]Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng; 01 đôi dép da quai ngang màu đen; 01 nón lưỡi trai bằng vải có bám dính tạp chất màu nâu đỏ và 01 đôi dép có ký hiệu GLAVV. Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã xử lý giao trả lại cho Nguyễn Huỳnh Ngọc T7, Phạm Chí H2 và Trần Ngọc K, là những chủ sở hữu. Sau khi nhận tài sản các chủ sở hữu không yêu cầu gì nên Tòa không xem xét. Đối với 01 cây kiếm tự tạo bằng kim loại màu bạc dài 98cm, cán kiếm hình tròn dài 38cm, lưỡi kiếm dài 60cm, chiều ngang lưỡi kiếm 04cm (của Nguyễn Phước Đ giao nộp); 01 nón bảo hiểm bị bể và 01 ốp xốp nón bảo hiểm (của Nguyễn Văn T11); 04 võ đạn đồng ký hiệu YAS GLD PAK 9mm và mãnh vở thủy tinh màu xanh là những vật chứng của vụ án tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối với Phạm Chí H2 có hành vi dùng súng là hung khí nguy hiểm bắn Trần Ngọc K gây thương tích 2%; Trương Hoàng Anh H4, Trương Công T8 và Trần Ngọc K có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Phạm Chí

10

H2 5% và gây thương tích cho Lê Tấn T6 1%; Nguyễn Phước Đ có hành vi dùng kiếm chém bà Nguyễn Thị Minh P1 gây thương tích 4%, đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS. Tuy nhiên, ngày 26/7/2024 và 29/7/2024 Trần Ngọc K, Lê Tấn T6, Phạm Chí H2 và bà Nguyễn Thị Minh P1 đã có đơn bãi nại, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với những người đã tham gia và gây ra thương tích cho mình. Do các bị hại rút yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với Nguyễn Phước Đ, Phạm Chí H2, Trương Hoàng Anh H4, Trương Công T8 và Trần Ngọc K về tội: “Cố ý gây thương tích”. Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Phước Đ, Phạm Chí H2, Trương Hoàng Anh H4, Trương Công T8 và Trần Ngọc K, mỗi người 6.500.000đ về hành vi cố ý gây thương tích là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn H đã cất giấu khẩu súng ngắn, sau đó đưa cho Phạm Chí H2 sử dụng là công cụ hỗ trợ và 01 viên đạn cao su của H nhưng không phải là vũ khí quân dụng. Nguyễn Văn H và Phạm Chí H2 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội: “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” nên hành vi của Nguyễn Văn H và Phạm Chí H2 không cấu thành tội: “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ” quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT - Công an huyện đã chuyển đến Công an huyện H để xử lý theo quy định là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi Trương Công T8 đã dùng rựa đập bể kính cửa trước và cửa hông của nhà bà Nguyễn Thị N1 nhưng gây thiệt hại, hư hỏng tài sản dưới 2.000.000đ. Mặc khác, T8 chưa bị xử phạt hành chính hay bị kết án về tội: “Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” nên hành vi của T8 không cấu thành tội: “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Công T8, mức phạt 4.000.000đ về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là đúng quy định pháp luật.

Đối với 02 người phụ nữ đi cùng nhóm thanh niên khoảng 10 người (hiện chưa xác định nhân thân) trên 03 xe ô tô đến nhà bà Nguyễn Thị N1 đập bể kính cửa gian nhà trước và cửa hông nhà, gây thiệt hại tài sản dưới 2.000.000đ. Đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch của những người này nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện H tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Huỳnh Ngọc T7 đã gọi điện thoại cho Trương Quang T2 và Nguyễn Văn T11 đến để đưa Phạm Chí H2 đi Bệnh viện. Sau đó, Trương Quang T2 rủ Nguyễn Phước Đ; T11 rủ Trần Duy T12, Trần Sơn L3, Phạm Tấn Đ1 và Trần Anh K1 cùng đến trước nhà bà Nguyễn Thị Minh P1 nhưng T7, L3, Phạm Tấn Đ1 và Trần Anh K1 không có hành vi giúp sức, không có hành động và lời nói gì khi xảy ra đánh nhau nên T7, L3, Phạm Tấn Đ1 và Trần Anh K1 không phạm với Nguyễn Phước Đ, Nguyễn Văn T11, Trần Duy T12 và Trương Quang T2 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.

11

Các bị cáo Nguyễn Phước Đ, Trương Quang T2, Nguyễn Văn T11, Trần Duy T12 mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước Đ (tên gọi khác: Nho M) phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt: Nguyễn Phước Đ (tên gọi khác: Nho M) 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2.Căn cứ: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trương Quang T2 (tên gọi khác: S) phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt: Trương Quang T2 (tên gọi khác: S) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3.Căn cứ: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với Nguyễn Văn T11 và Trần Duy T12.

-Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T11 (tên gọi khác: C) phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt: Nguyễn Văn T11 (tên gọi khác: C) 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm được tính từ ngày Tòa tuyên án (06/3/2025).

-Tuyên bố bị cáo Trần Duy T12 (tên gọi khác: L4) phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt: Trần Duy T12 (tên gọi khác: L4) 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng được tính từ ngày Tòa tuyên án (06/3/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Văn T11 cho chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận; giao bị cáo Trần Duy T12 cho chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp Nguyễn Văn T11 và Trần Duy T12 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

12

4.Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kiếm tự tạo bằng kim loại màu bạc dài 98cm, cán kiếm hình tròn dài 38cm, lưỡi kiếm dài 60cm, chiều ngang lưỡi kiếm 04cm; 01 nón bảo hiểm bị bể và 01 ốp xốp nón bảo hiểm; 04 võ đạn đồng ký hiệu YAS GLD PAK 9mm và mãnh vở thủy tinh màu xanh. Tất cả hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025.

5. Về án phí: Căn cứ: Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Phước Đ, Trương Quang T2, Nguyễn Văn T11, Trần Duy T12 mỗi người phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6.Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án HS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ung Thanh Quang

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HSST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 34/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger