Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-PT
Ngày: 26/02/2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Phương.

Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Hà

Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kiều Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 194/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2024/QĐXXPT-HS ngày 31/12/2024 đối với các bị cáo Phan Đức VTrần Lê Qvà Nguyễn Thanh H, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 107/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Các Bị cáo có kháng cáo:

  1. NGUYỄN THANH H; giới tính: Nam, sinh ngày 02.01.1971 tại huyện T, tỉnh Bình Địnhnơi cư trú: Tổ C, khu V, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Địnhnghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn H1sinh năm 1943 và bà: Trần Thị L 1946; vợ: Phan Thị L1sinh năm 1974; có 04 người con, lớn sinh năm: 1996, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/6/2021, bị Công an P2TP xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (đã chấp hành xong). Bị bắt tạm giữ từ ngày 11.8.2023 đến ngày 17.8.2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. TRẦN LÊ QUANG; giới tính: Nam, sinh ngày 04.7.1989 tại thành phố Q, tỉnh Bình Địnhnơi thường trú: Tổ B, khu V, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Địnhnơi ở hiện tại: 132/25/11 L, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Địnhnghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Trần Hải T 1964 và bà: Lê Thị Mỹ Pnăm 1965; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/02/2020, bị Công an T6xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (đã chấp hành xong). Bị bắt tạm giữ từ ngày 11.8.2023 đến ngày 17.8.2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. PHAN ĐỨC VINH; giới tính: Nam, sinh ngày 29.3.1981 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định nơi cư trú: Tổ D, khu V, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Địnhnghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Phan Hồng S 1948 và bà: Trần Thị T1T1sinh năm 1958; vợ: Đỗ Thị T2T2sinh năm 1988; có 01 người con, sinh năm: 2018; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
    • Ngày 06/8/1997, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản Xã hội chủ nghĩa”.
    • Ngày 29/10/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
    • Ngày 25/5/2001, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    • Ngày 17/11/2010, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
    • Ngày 26/11/2014, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/8/2017.

    Bị bắt tạm giữ từ ngày 11.8.2023 đến ngày 17.8.2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có 3 Bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Hội đồng xét xử không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 15 giờ ngày 11.8.2023, ĐCông an thành phố Tóphối hợp với Công an phường Nphát hiện, bắt quả tang các đối tượng: L1 HTrần Lê QBùi Thanh V Đức VNguyễn TGđang đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài “Binh xập xám” thắng thua bằng tiền tại địa chỉ số B T thuộc khu phố A, phường N, thành phố Q nên tiến hành tạm giữ số tiền và các vật dụng dùng để đánh bạc và đưa đối tượng về trụ sở làm việc.

Cơ quan Công an đã tạm giữ:

  • Số tiền 1.640.000 đồng từ L
  • Số tiền 9.400.000 đồng từ Nguyễn Thanh H
  • Số tiền 3.200.000 đồng từ Trần Lê Quang.
  • Số tiền 2.280.000 đồng từ Phan Đức V2
  • Số tiền 1.020.000 đồng từ Bùi Thanh V1
  • 03 bộ bài Tây.
  • 03 hột xí ngầu.

Qua điều tra đã xác định như sau:

Khoảng đầu năm 2023, Trần Văn T1(Sinh năm: 1993; trú: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bìnhthuê phòng trọ tại số B T thuộc khu phố A, phường N, thành phố Q. T4có cho B T4V1là người quen của T4để nhờ hàng hóa trong phòng trọ nên giao V1giữ 01 chìa khóa nhà. Sáng ngày 11.8.2023, Bùi T4V1Phan ĐVTrần Lê QNguyễn Thanh Htụ tập uống cà phê tại quán ở số B T, phường N, thành phố Q uống cà phê, cả nhóm rủ nhau đến phòng trọ ở số B, phường N, thành phố Q bài binh xập xám thắng thua bằng tiền.V1là người mua bài để cho cả nhóm đánh bạc. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm bắt đầu đánh bạc với hình thức đánh bài binh xập xám.

Khi bắt đầu đánh bạc, Phan Đức V tiền đánh bạc là 660.000 đồng, Nguyễn Thanh H1 số tiền đánh bạc là 7.130.000 đồng, Bùi T4V1mang theo số tiền đánh bạc là 1.500.000 đồng, Trần Lê Q số tiền đánh bạc là 2.900.000 đồng. Khi đánh bạc đến khoảng 12 giờ cùng ngày, V1440.000 đồng, còn lại 220.000 đồng nên không đánh bạc nữa mà đi về nhà. Lúc này, Lê Đức T2 đến nên thay vào trí của V2đánh bạc. T3mang theo số tiền dùng để đánh bạc là 2.200.000 đồng. Trong khi đang đánh bạc với T3HQthì Bùi T4V1có việc nên về trước và nhờ Nguyễn Trường G giúp và đưa tiền đánh bạc của V1cho GKhoảng 13 giờ 30 cùng ngày, Vlquay lại phòng trọ số B Tlúc này Gkhông đánh bạc giúp V1nữa mà góp 1.500.000 đồng vào trụ của V1cùng với V1đánh bạc với HQT3Trong lúc nhóm V1đánh bạc thì có Nguyễn Trung T3(Sinh năm: 1982; trú: số E L, phường L, thành phố Q(Sinh năm: 1980; trú: số E D, phường L, thành phố Q, không tham gia đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ 30 cùng ngày, Phan Đức V số tiền 1.870.000 đồng quay lại để tiếp tục đánh bạc. Lúc này, tại sòng bạc gồm: B1 G101 trụ; 03 trụ còn lại là Nguyễn HTrần Lê QLê Đức T4 Vxin vào chung trụ của T7 nhóm đều đồng ý. P Q2soát bài, nhắc bài để không bị phạm luật chơi; còn Q3Vsử dụng kết quả bài của Q6thắng thua với B T4V1và Lê Trường G1

Quá trình đánh bạc, khi thay bộ bài mới thì mỗi người phải đóng tiền để mua bài, T3đã góp 40.000 đồng, V440.000 đồng, H260.000 đồng, Q460.000 đồng và đưa cho V1giữ để mua bài cho cả nhóm. Cả nhóm gồm 06 người đánh bạc đến 15 giờ cùng ngày thì bị ĐCông an thành phố T6phối hợp với Công an phường N quả tang.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an Tóđã thu giữ: Số tiền 17.540.000 đồng; 03 bộ bài Tây; 03 hột xí ngầu.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 107/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân thành phố Quy Nhơn đã quyết định:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự (Đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự (Đối với các bị cáo Trần Lê Q1

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự (Đối với bị cáo Phan Đức V2).

- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh:Tuyên bố các bị cáo Bùi T4V1Nguyễn T5 HTrần Lê QPhan Đức VLê ĐT3Nguyễn Trường G1 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:

    2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H2 tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 11.8.2023 đến ngày 17.8.2023.

    2.2. Xử phạt bị cáo Trần Lê Q1 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 11.8.2023 đến ngày 17.8.2023.

    2.3. Xử phạt bị cáo Phan Đức V2 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 11.8.2023 đến ngày 17.8.2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 03 bị cáo Bùi T4V1Lê ĐT3và Nguyễn Trường G, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 30/5/2024 bị cáo Nguyễn Thanh H3 xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Ngày 30/5/2024 bị cáo Trần Lê Q1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Ngày 11/6/2024 bị cáo Phan Đức V1 xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa các Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo .

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: VQgiữ nguyên Bản án sơ thẩm đối với phần hình phạt của các bị cáo này. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo H áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H 04 tháng tù. Sửa bản án sơ thẩm đối với phần hình phạt của bị cáo H

Các Bị cáo nói lời sau cùng không tranh luận với viện kiểm sát, chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các bị cáo Nguyễn Thanh HTrần Lê Qvà Phan Đức V2 kháng cáo trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Vào ngày 11.8.2023, sau khi cùng uống cà phê đến khoảng 10 giờ 30 phút, N khởi xướng việc đánh bài dưới hình thức “Binh xập xám” thắng thua bằng tiền và lựa chọn phòng trọ ở số nhà B, phường N hiện hành vi. Quá trình đánh bạc có thêm L2 G3tham gia. Bùi Thanh V1góp tiền cùng với Nguyễn T6 G4đánh bạc với cả nhóm; Phan Đức V3sức để Trần Lê Q6đánh bạc với cả nhóm, riêng Vsử dụng kết quả bài này để trực tiếp thắng thua với V1và GCả nhóm gồm 06 người đánh bạc đến 15 giờ cùng ngày thì bị ĐCông an thành phố Tóphối hợp cùng Công an phường Nphát hiện, bắt quả tang cả nhóm gồm 4 trụ bao gồm: P1 Lê Q7một trụ, Bùi T4V1và Nguyễn Trường G3một trụ, Nguyễn Thanh H5Lê Đ T3là hai trụ với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 17.540.000 đồng. Do đó, các bị cáo Bùi T4V1Nguyễn Thanh HTrần Lê QPhan Đức VLê Đ TTrường G5 bị tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 06 đến 03 năm là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh HTrần Lê Qvà Phan Đ1 V6 xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trị an ở địa phương, các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc, thắng thua bằng tiền bị Nhà nước cấm, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Toà án Cấp sơ thẩm đã đánh giá mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo đã tuyên phạt bị cáo: Phan Đức V06 tháng tù, bị cáo: Nguyễn Thanh H06 tháng tù và bị cáo: Trần Lê Q5 04 tháng tù là đúng pháp luật. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cho các bị cáo cần xem xét về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo.

[3.1] Đối với kháng cáo của các bị cáo N2 bị cáo H5Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nghiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức án nêu trên là quá nghiêm khắc. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự chuyển sang xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian cải tạo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Các bị cáo Nguyễn Thanh H4 Lê Q12có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập.

[3.2] Đối với kháng cáo của bị cáo Phan Đức V2. Bị cáo V8có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu đã bị Toà án xét xử nhiều bản án phạm tội từ 1997 cho đến 2014. Bản án gần nhất vào ngày 26/11/2014 bị cáo V9 Toà án nhân dân Thành Phố Quy Nhơn xử phạt 03 năm tù về tội” trộm cắp tài sản”, Chấp hành xong hình phạt ngày 07/8/2017. Cho nên Bị cáo Phan Đức V9cấp sơ thẩm xử phạt 06 tháng tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt là nhẹ so với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cho nên HĐXX không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Từ những phân tích nêu trên. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H4 Lê Q9mức hình phạt của Bản án sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đức V2 giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội: Các bị cáo Nguyễn Thanh H và T8 chịu. Bị cáo Phan Đức V10chịu 200.000 đồng.

[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Đề nghị của viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phù hợp một phần với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Áp dụng cho bị cáo Nguyễn Thanh H

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Áp dụng cho bị cáo Trần Lê Q1

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Áp dụng cho bị cáo Phan Đức V2

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H4 Lê Q. S1mức hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 107/2024/HS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành Phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đức V2. Giữ nguyên mức hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 107/2024/HS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành Phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
  2. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Lê Q10Phan Đ2 V11tội “Đánh bạc”.

    2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H5mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ 06 ngày [(từ ngày 11/8/2023 đến 17/8/2023)(01 ngày tạm giữ = 03 ngày cải tạo không giam giữ)] = 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 17 (mười bảy) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an T9 nhận được Quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Nguyễn Thanh H6 ban nhân dân Phường G sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thanh H7

    2.2. Xử phạt bị cáo Trần Lê Q2mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ 06 ngày [(từ ngày11/8/2023 đến 17/8/2023) (01 ngày tạm giữ = 03 ngày cải tạo không giam giữ)] = 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 11 (mười một) tháng 12 ( mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an T9, tỉnh Bình Định nhận được Quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Trần Lê Q1 cho Ủy ban nhân dân Phường L, Thành Phố Q, tinh Bgiám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Lê Q3

    2.3. Xử phạt bị cáo Phan Đức V2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 11.8.2023 đến ngày 17.8.2023.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thanh H8 Trần Lê Q12phải chịu. Bị cáo Phan Đ1 V10chịu án phí 200.000đ.
  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT.1 TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TA, VKS, CQĐT CA TP. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS TP. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan HSNV CA tỉnh Bình Định;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Công Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 34/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị Cáo Quang, Vinh, Hùng về tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger