Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thân Thị Tuyết Nhung.

2. Bà Nguyễn Thị Huệ.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19A/2025/HSST ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn L, sinh năm 1976; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn G, xã T (N là phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 3/12; Bố: Trần Văn S, sinh năm 1950 (đã chết); Mẹ: Đỗ Thị N, sinh năm 1952; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Lê Thị T, sinh năm 1982; Có 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Bản án hình sự sơ thẩm số 17 ngày 01/7/2004 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
  • Ngày 24/8/2006 bị Chủ tịch UBND huyện Y quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Bản án hình sự sơ thẩm số 45 ngày 05/9/2008 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh năm 1976; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hoá: 7/12; Bố: Nguyễn Văn K1, sinh năm 1952 (đã chết); Mẹ: Thân Thị B, sinh năm 1952; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Lê Thị T, sinh năm 1977; Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 45 ngày 19/6/2012 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 13 tháng 12 ngày về tội “Đánh bạc”; số tiền dùng đánh bạc là 2.680.000 đồng; đã được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).

3. Họ tên: Nông Văn H, sinh năm 1990; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Nơi ở: Tổ dân phố G, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Nùng. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do. Văn hoá: 6/12; Bố: Nông Văn T1, sinh năm 1965; Mẹ: Lý Thị Đ, sinh năm 1963; Gia đình có 03chị em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Nông Thị T2, sinh năm 1983; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Ngọc A, sinh năm 1994, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Chung cư G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Hiện đang tạm giam trong vụ án khác).

2. Anh Nông Văn N1, sinh năm 1994, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn G, xã T (nay là Phường T) thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

- Ông Lương Văn K2, sinh năm 1953, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T (nay là Phường T) thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Đỗ Đức L1, sinh năm 1979, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T (nay là Phường T) thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn L, sinh năm 1976 trú tại thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang mua ma túy mục đích vừa để sử dụng và bán lại cho người khác để thu lợi. Theo L khai vào ngày 22/8/2024 mua của Lê Ngọc A, sinh năm 1994, trú tại chung cư G, phường T, thành phố B 2.700.000 đồng ma túy Heroin. Lai chia số ma túy này được khoảng hơn 50 gói ma túy nhỏ rồi cất giấu vào một lọ nhựa hình trụ màu trắng để trong phòng ngủ mục đích vừa để sử dụng vừa bán cho người khác.

Buổi trưa ngày 23/08/2024, Nguyễn Văn K, sinh năm 1976, trú tại TDP P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đi xe máy biển số 98B3 - 940.80 đến nhà Trần Văn L mục đích để mua ma túy để sử dụng. K để xe máy ở sân rồi đi vào gọi nhưng không thấy L trả lời nên đi ra bàn uống nước ở ngoài sân ngồi hút thuốc lào.

Một lúc sau, Nông Văn N1, sinh năm 1994, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn (hiện ở thôn G, xã T, thành phố B) đi bộ đến nhà Trần Văn L mục đích mua ma túy để sử dụng. Nhuận gặp L ở cửa nhà và hỏi mua 200.000 đồng ma túy heroin thì L đồng ý bán. N1 đưa cho L 300.000 đồng (gồm 200.000 đồng tiền mua ma túy và trả nợ 100.000 đồng vay trước đó). L cầm tiền sau đó lấy từ trong lọ nhựa ra 01 gói giấy bạc đựng ma túy heroin rồi đưa cho N1. Nhuận cầm gói ma túy rồi đi ra bãi đất trống thuộc thôn P, xã T, thành phố B để sử dụng. Khi N1 vừa sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an thành phố B phát hiện lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ gồm 01 mảnh giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bề mặt bám dính chất màu đen nghi ma tuý được cho vào một phong bì thư niêm phong ký hiệu KT1.

Tại thời điểm Nông Văn N1 mua ma tuý xong rồi đi ra ngoài thì K đi vào trong nhà ngồi uống nước với L. Tại đây, K hỏi mua của L một gói ma túy heroin với giá 100.000 đồng thì L đồng ý bán. K đưa cho L 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Lai lấy 01gói ma túy heroin từ trong lọ nhựa để ở trên bàn và ném xuống nền nhà gần vị trí K đang ngồi. K nhặt gói ma túy và cầm ở tay phải rồi tiếp tục ngồi uống nước với L ở trong nhà.

Khi hai người đang ngồi nói chuyện thì có Nông Văn H, sinh năm 1990, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn (hiện ở tổ dân phố G, phường T, thị xã V) đi xe máy biển số 12T1- 134.11 đến nhà L mục đích mua ma tuý để sử dụng. Hành để xe ở ngoài cổng rồi đi bộ vào thì gặp K và L đang ngồi nói chuyện trong nhà. Hành hỏi mua 400.000 đồng ma túy thì L đồng ý bán. Hành đưa cho L 400.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. L lấy từ trong lọ nhựa ra 02 gói ma túy heroin và đưa cho H. Hành đi ra bàn uống nước ở ngoài sân và lấy tờ giấy ăn bọc 02 gói ma túy vừa mua sau đó cất giấu vào túi quần đùi bên phải đang mặc. Khi H đi đến chỗ để xe máy chuẩn bị ra về thì bị Công an thành phố B bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ:

  • 01 gói giấy màu trắng, loại giấy ăn bên trong đựng 02 gói giấy bạc có đặc điểm một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong đựng chất cục bột màu trắng- nghi là ma túy thu giữ trong túi quần đùi bên phải Nông Văn H đang mặc được cho vào phong bì thư niêm phong ký hiệu “QT1”.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng.
  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda biển số 12T1 - 134.11.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là chất ma túy đã thu giữ của Nông Văn H khi bắt quả tang.

Kết luận giám định số 1865/KL - KTHS ngày 28/8/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:

  • Trong 01 phong bì ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, loại ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 0,220 gam.

Hồi 12 giờ 35 phút cùng ngày, Công an thành phố B lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Trần Văn L có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và Nguyễn Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ của K gồm:

  • 01 gói giấy bạc có đặc điểm một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, kiểm tra bên trong đựng một gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ tại nền nhà cạnh cửa ra vào gần vị trí Nguyễn Văn K đang ngồi khi bị kiểm tra do K thả rơi từ tay phải xuống khi bị kiểm tra được cho vào phong bì thư niêm phong ký hiệu “QT2”
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, IMEI: 867398030601066.
  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển số 98B3 - 940.80.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là chất ma túy đã thu giữ của Nguyễn Văn K khi bắt quả tang.

Kết luận giám định số 1866/KL - KTHS ngày 28/8/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:

  • Trong 01 phong bì ký hiệu “QT2”, được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng (gói bên ngoài bằng 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng) là ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,120 gam.

Hồi 12 giờ 55 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn L đã thu giữ:

  • 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng, có nắp đậy dạng ren xoáy, mở ra kiểm tra bên trong có 48 gói giấy trong đó có 08 gói giấy đều có đặc điểm một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 40 gói giấy bạc đều có đặc điểm một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; bên trong mỗi gói giấy đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy do Trần Văn L tự giác lấy từ trên mặt bàn trong nhà ngang của L giao nộp được cho vào phong bì thư niêm phong ký hiệu “KX1”.
  • 02 gói giấy bạc đều có đặc điểm một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy do Trần Văn L tự giác lấy từ trên mặt bàn trong nhà ngang của L ra giao nộp được cho vào một phong bì thư niêm phong ký hiệu "KX2".
  • 01 dao lam; 03 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; nhiều mảnh giấy bạc có đặc điểm một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 02 mảnh giấy màu trắng, loại giấy có dòng kẻ thu giữ trên mặt bàn trong nhà ngang của Trần Văn L.
  • 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone XR màu đen, IMEI: 356437108786454, gắn sim số 0981.390.233.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen có mật khẩu không kiểm tra được thông tin bên trong.
  • Số tiền 9.090.000 đồng thu tại túi quần bên phải của Trần Văn L.
  • Số tiền 650.000 đồng thu tại túi quần bên trái của Trần Văn L.
  • Số tiền 15.500.000 đồng thu tại ngăn tủ trong phòng nhà ngang.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là chất ma túy đã thu giữ của Trần Văn L khi khám xét và mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bề mặt bám dính chất màu đen thu giữ của Nông Văn N1 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu KT1.

Kết luận giám định số 1866/KL - KTHS ngày 28/8/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:

  • Trong 01 phong bì ký hiệu "KX1" được niêm phong gửi giám định: Trong 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy dạng ren xoáy: Chất cục bột màu trắng đựng trong 48 gói giấy (trong đó có 08 gói giấy đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 40 gói giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng), đều là ma túy, loại Heroine tổng khối lượng 5,126 gam.
  • Trong 01 phong bì ký hiệu "KX2" được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng đều là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 0,210 gam.
  • Trong 01 phong bì ký hiệu "KT1" được niêm phong gửi giám định: Trên 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bề mặt bám dính chất màu đen không tìm thấy chất ma túy bám dính.

Trong quá trình điều tra, các bị can Trần Văn L, Nguyễn Văn K, Nông Văn H khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội như nêu trên.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Trần Văn L, Nguyễn Văn K, Nông Văn H đều dương tính với ma tuý MOP, MET.

Ngày 29/8/2024, Cơ quan điều tra đã cho Trần Văn L nhận dạng ảnh Nguyễn Văn K, Nông Văn H. Kết quả L nhận đúng ảnh và xác định bán ma tuý cho K và H vào ngày 23/8/2024.

Kiểm tra điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn K, Nông Văn H không phát hiện nội dung vi phạm pháp luật. Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen có các cuộc gọi, tin nhắn Zalo lưu tên tài khoản “A N2”. Bị can L khai liên lạc với Lê Ngọc A mua ma túy ngày ngày 23/8/2024.

Về nguồn gốc số ma túy đã bán cho K, N1, H và số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang: Theo Trần Văn L khai mua của Lê Ngọc A, sinh năm 1994, trú tại phường A, tòa CT1, chung cư G, phường T, thành phố B. Tuy nhiên, Ngọc A không thừa nhận đã bán ma túy cho L. Cơ quan điều tra đã cho Ngọc A và L đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của L thì không còn tài liệu nào khác nên không đủ cơ sở xác định Ngọc A có hành vi bán trái phép chất ma túy cho L.

Ngày 14/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B khám xét chỗ ở Lê Ngọc A đã thu giữ ma tuý Heroine và một số vật chứng khác. Hiện nay, Cơ quan điều tra đã khởi tố, tạm giam đối với Lê Ngọc A về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với Trần Ngọc L2, sinh năm 2000 là con trai của Trần Văn L ở cùng L tại thôn G, xã T, thành phố B nhưng không biết việc L mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với Nông Văn N1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đã bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định và số vật chứng, tài sản thu giữ được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Nguyễn Văn K; Nông Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và truy tố Trần Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

-Bị cáo Trần Văn L trình bày tại phiên tòa: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trong bản cáo trạng. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra. Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều luật như trên là không oan, đúng người, đúng tội. Bị cáo đã có hành vi bán ma túy cho 3 người đó là N1, K, H. Bị cáo bán cho N1 200.000 đồng ma túy, số tiền đó bị cáo để vào túi quần bên trái. Bị cáo bán cho K 100.000 đồng ma túy, số tiền đó bị cáo để ở túi quần bên trái. Bị cáo bán cho H 400.000 đồng ma túy, số tiền đó bị cáo để ở túi quần bên phải. Trong quá trình điều tra, bị cáo bị thu giữ số tiền 9.090.000 đồng ở túi quần bên phải, 650.000 đồng ở túi quần bên trái, 15.500.000 đồng tại ngăn tủ trong phòng nhà ngang, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XR, 01 điện thoại nhãn hiệu Redmid và một số đồ vật khác. Đối với các tài sản trên ngoài số tiền bán ma túy cho N1, H, K đều là tiền của bị cáo và 02 điện thoại di động cũng là của bị cáo nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo đề nghị được xin lại.

- Bị cáo Nguyễn Văn K trình bày tại phiên tòa: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trong bản cáo trạng. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra. Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều luật như trên là không oan, đúng người, đúng tội. Bị cáo mua ma túy của bị cáo L với số tiền là 100.000 đồng. Bị cáo mua ma túy với mục đích để sử dụng. Bị cáo đi đến nhà L với mục đích là để mua ma túy để sử dụng. Bị cáo bị thu giữ chiếc xe máy BKS 98B3-940.80 và 01 điện thoại OPPO. Bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại trên làm phương tiện, công cụ phạm tội.

- Bị cáo Nông Văn H trình bày tại phiên tòa: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trong bản cáo trạng. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra. Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều luật như trên là không oan, đúng người, đúng tội. Bị cáo mua ma túy của bị cáo L với số tiền là 400.000 đồng. Bị cáo mua ma túy với mục đích để sử dụng. Bị cáo đi đến nhà L với mục đích là để mua ma túy để sử dụng. Bị cáo bị thu giữ chiếc xe máy BKS 12T1-134.11 và 01 điện thoại Redmid. Bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại trên làm phương tiện, công cụ phạm tội. Bị cáo thuộc hộ cận nghèo.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. 1. Áp dụng điểm b, i khoản 2; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 23/8/2024.
  2. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Văn L số tiền: 5 triệu đến 10 triệu đồng.

  3. 2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 23/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn K.
  4. 3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 23/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Nông Văn H.

* Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy:
    • + 05 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của P, công an tỉnh B.
    • + 01 dao lam; 03 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; nhiều mảnh giấy bạc có đặc điểm một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 02 mảnh giấy màu trắng, loại giấy có dòng kẻ;
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
    • + 01 xe máy nhãn hiệu Honda BKS 12T1-134.11;
    • + 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 98B3- 940.80;
    • Trong số tiền 9.090.000 đồng thu tại túi quần bên phải của Trần Văn L tịch thu sung ngân sách nhà nước 400.000 đồng và hoàn trả cho bị cáo Trần Văn L số tiền 8.690.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • Trong số tiền 650.000 đồng thu tại túi quần bên trái của Trần Văn L tịch thu sung ngân sách nhà nước 300.000 đồng và hoàn trả cho bị cáo Trần Văn L số tiền 350.000 đồng.
  • Trả lại cho bị cáo Trần Văn L:
    • + 15.500.000 đồng thu tại ngăn tủ trong phòng nhà ngang của Trần Văn L;
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen, số Imei: 356437108786454, gắn sim số 0981.390.233;
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmid màu đen có mật khẩu không kiểm tra được thông tin bên trong;
  • Trả lại cho bị cáo Nông Văn H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng.
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, Imei: 867398030601066 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Án phí: Bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn H.

Các bị cáo: Không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự có mặt của đương sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Trần Văn L mua ma tuý Heroine sau đó đem về nhà ở thôn G, xã T, thành phố B chia thành nhiều gói nhỏ mục đích vừa để sử dụng và vừa bán lại cho người khác. Ngày 23/8/2024, L đã bán cho Nông Văn N1 01 gói ma tuý Heroine với giá 200.000 đồng sau đó N1 đã sử dụng hết; bán cho Nguyễn Văn K 01 gói ma tuý Heroine với giá 100.000 đồng; bán cho Nông Văn H 02 gói ma tuý Heroine với giá 400.000 đồng. Cùng ngày, Công an thành phố B đã lập biên bản bắt quả tang đối với L về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý; bắt quả tang K, H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và thu giữ vật chứng.

Kết quả giám định xác định Nguyễn Văn K tàng trữ trái phép 0,120 gam Heroine; Nông Văn H tàng trữ trái phép 0,220 gam Heroine. Theo các bị cáo K và H khai mục đích mua ma tuý để sử dụng.

Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Trần Văn L thu giữ 50 gói ma tuý, kết quả giám định là ma tuý Heroine có tổng khối lượng 5,426 gam. L khai tàng trữ số ma tuý trên mục đích vừa để sử dụng vừa bán lại cho người khác.

Tổng khối lượng chất ma tuý mà Trần Văn L phải chịu trách nhiệm hình sự gồm số ma tuý đã bán cho K, H và số ma tuý bị thu giữ khi khám xét là 5,766 gam Heroine.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng vẫn thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Do vậy, Bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Nông Văn H, bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân: Các bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Văn K là người có nhân thân xấu, bị cáo Nông Văn H là người có nhân thân tốt.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

[7] Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị xã hội lên án. Hành vi của các bị cáo là nguyên nhân kéo theo nhiều tội phạm nguy hiểm khác như nghiện hút, trộm cắp tài sản, cướp tài sản.... là căn nguyên của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS...là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, an toàn trật tự công cộng của xã hội. Các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang là phù hợp.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn L thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L. Đối với các bị cáo H, K các bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9] Về vật chứng:

  • Đối với: 05 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của P, công an tỉnh B là ma túy hoàn lại sau giám định và là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với: 01 dao lam; 03 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; nhiều mảnh giấy bạc có đặc điểm một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 02 mảnh giấy màu trắng, loại giấy có dòng kẻ là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda BKS 12T1-134.11 và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 98B3- 940.80 là phương tiện các bị cáo dùng để đi mua ma túy với mục đích để sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền 9.090.000 đồng thu tại túi quần bên phải của Trần Văn L gồm 400.000 đồng là số tiền mà bị cáo L đã bán ma túy cho bị cáo H và 8.690.000 đồng là tiền của bị cáo L không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 400.000 đồng và hoàn trả cho bị cáo Trần Văn L số tiền 8.690.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Đối với số tiền 650.000 đồng thu tại túi quần bên trái của Trần Văn L gồm 300.000 đồng là số tiền mà bị cáo L bán ma túy cho bị cáo K, N1 và 350.000 đồng là số tiền của bị cáo L không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 300.000 đồng và hoàn trả cho bị cáo Trần Văn L số tiền 350.000 đồng.
  • Đối với: 15.500.000 đồng thu tại ngăn tủ trong phòng nhà ngang của Trần Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen, số Imei: 356437108786454, gắn sim số 0981.390.233; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmid màu đen có mật khẩu không kiểm tra được thông tin bên trong là tài sản cá nhân của bị cáo L không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Trần Văn L.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng là tài sản cá nhân của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nông Văn H.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, Imei: 867398030601066 là tài sản cá nhân của bị cáo K không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[10] Về án phí: Các bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Nông Văn H thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí cho bị cáo Nông Văn H.

Ngoài ra, cần tạm giam các bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Văn K, Nông Văn H 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.1. Căn cứ điểm b, i khoản 2; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn L.

1.2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K, Nông Văn H.

2. Xử

2.1. Xử phạt bị cáo Trần Văn L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2024.

Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Văn L: 5.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

2.2. Xử phạt bị cáo Nông Văn H 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2024.

2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2024.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy:
    • + 05 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của P, công an tỉnh B.
    • + 01 dao lam; 03 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; nhiều mảnh giấy bạc có đặc điểm một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 02 mảnh giấy màu trắng, loại giấy có dòng kẻ;
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
    • + 01 xe máy nhãn hiệu Honda BKS 12T1-134.11;
    • + 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 98B3-940.80;
    • Trong số tiền 9.090.000 đồng thu tại túi quần bên phải của Trần Văn L tịch thu sung ngân sách nhà nước 400.000 đồng và hoàn trả cho bị cáo Trần Văn L số tiền 8.690.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • Trong số tiền 650.000 đồng thu tại túi quần bên trái của Trần Văn L tịch thu sung ngân sách nhà nước 300.000 đồng và hoàn trả cho bị cáo Trần Văn L số tiền 350.000 đồng.
  • Trả lại cho bị cáo Trần Văn L:
    • + 15.500.000 đồng thu tại ngăn tủ trong phòng nhà ngang của Trần Văn L;
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen, số Imei: 356437108786454, gắn sim số 0981.390.233;
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmid màu đen có mật khẩu không kiểm tra được thông tin bên trong;
  • Trả lại cho bị cáo Nông Văn H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng.
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, Imei: 867398030601066 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn H.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự

- Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Bắc Giang
  • VKSND thành phố Bắc Giang;
  • TAND tỉnh Bắc Giang;
  • Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • Cơ quan THAHS Công an thành phố Bắc Giang;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • UBND phường Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • UBND phường Tăng Tiến, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
  • UBND xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn;
  • Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn L cùng đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger